Trong bối cảnh phát triển du lịch bền vững ngày càng trở thành ưu tiên của nhiều quốc gia, Tổ chức Quốc tế Pháp ngữ - Organisation internationale de la Francophonie (OIF) - đang triển khai tại Việt Nam dự án “Điểm đến Sinh thái Tài năng” - Destination Eco-Talent - với mục tiêu kết hợp đào tạo nghề, tạo việc làm cho thanh niên và phụ nữ tại các địa phương, đồng thời thúc đẩy các mô hình du lịch cộng đồng gắn với bảo tồn văn hóa và bảo vệ môi trường.
Trả lời phỏng vấn đài RFI Tiếng Việt, bà Adjara Diouf, điều phối viên của chương trình Thúc đẩy Du lịch Bền vững của OIF chia sẻ về những chia sẻ về những mô hình đang được thử nghiệm tại Việt Nam, các thách thức trên thực địa cũng như tiềm năng của du lịch bền vững trong không gian Pháp ngữ.
Adjara DIOUF : Tổ chức Quốc tế Pháp ngữ đã khởi động dự án Điểm đến Sinh thái Tài năng vào năm 2024 tại bốn quốc gia : Cabo Verde, Cam Bốt, Comores và Việt Nam. Mục tiêu tổng thể của dự án là góp phần vào khả năng hồi phục và trao quyền cho người dân, đặc biệt là cho giới trẻ và phụ nữ, để giải quyết các thách thức về môi trường, khí hậu, kinh tế và xã hội.
Dự án này, được gọi là Điểm đến Sinh thái Tài năng (Eco-Talent), nhằm mục đích tạo ra việc làm và cơ hội thu nhập cho thanh niên, phụ nữ và cộng đồng dân cư sống ở nông thôn và các vùng ven đô thị.
Chương trình tập trung vào khả năng tìm việc làm và phát triển nghề nghiệp của người lao động thông qua các sáng kiến giáo dục và đào tạo, hướng tới các nghề trong ngành du lịch bền vững, đồng thời hỗ trợ phát triển và quảng bá các sản phẩm du lịch bền vững. Chương trình cũng nhấn mạnh đến sự phối hợp và kết nối các nỗ lực trong phát triển du lịch bền vững.
Tại sao lại là Việt Nam ? Đơn giản là vì, trước hết, chúng tôi có văn phòng đại diện khu vực của Tổ chức Quốc tế Pháp ngữ (OIF) tại Việt Nam. Vì vậy, việc bắt đầu với quốc gia này là hoàn toàn hợp lý, đặc biệt là vì trụ sở cơ quan của tôi và nhóm điều phối đều được đặt tại Việt Nam.
Hơn nữa, Việt Nam là một đất nước tuyệt vời với nhiều tiềm năng trong lĩnh vực du lịch bền vững và du lịch nói chung.
RFI : Trong giai đoạn thực hiện, OIF đã phát triển các sáng kiến và mô hình đổi mới nào để thúc đẩy du lịch bền vững ?
Adjara DIOUF : Có thể coi dự án Điểm đến Du lịch Sinh thái này là một sáng kiến đổi mới. Thứ nhất, dự án này của OIF triển khai một mô hình đổi mới kết hợp du lịch bền vững và đào tạo.
Dự án được triển khai với sự hợp tác của một số trường đại học của Việt Nam, như Đại học Hà Nội, hay Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh … Mô hình này đề xuất các chương trình đào tạo chuyên ngành, tích hợp với hoạt động thực tiễn. Như vậy sinh viên có thể áp dụng lý thuyết vào thực tiễn, qua đó có sự hỗ trợ trực tiếp và cụ thể cho các cộng đồng dân cư.
Dự án này cũng tích hợp các chương trình đào tạo nghề trong lĩnh vực du lịch, nhằm thúc đẩy hội nhập nghề nghiệp cho những thanh niên có hoàn cảnh khó khăn, ví dụ như ở các tỉnh.
Đào tạo và giáo dục về du lịch bền vững là rất cần thiết. Bởi vì đào tạo nghề trong lĩnh vực du lịch bền vững có thể nâng cao nhận thức của giới trẻ về tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường và trên hết, giúp họ tìm được con đường hướng tới việc làm và hội nhập.
Thứ hai, dự án này hỗ trợ phát triển các tuyến du lịch trải nghiệm thực tế. Ví dụ các sáng kiến du lịch cộng đồng với nghề làm nón lá ở Tri Lễ hoặc nghề đan lát ở Bao La, Huế. Những sáng kiến này hoàn toàn do cộng đồng ở địa phương quản lý. Khi loại bỏ các bên trung gian, người dân biến những kỹ năng của họ thành những trải nghiệm tạo ra thu nhập thực sự.
Việc các địa phương nắm được chuỗi giá trị như vậy sẽ tạo ra 3 tác động : về kinh tế, thông qua việc tạo ra việc làm ; về xã hội, thông qua việc trao quyền cho phụ nữ và thanh niên; và về môi trường và văn hóa, thông qua việc bảo tồn di sản. Chính bằng cách này, Tổ chức Quốc tế Pháp ngữ (OIF) mang lại thêm giá trị thực sự, thông qua việc điều phối các đối tác sử dụng tiếng Pháp tham gia vào các sáng kiến này.
Hơn nữa, việc sử dụng tiếng Pháp thông qua giao tiếp và thậm chí cả việc học những điều cơ bản về ngôn ngữ cũng mang lại cho các cộng đồng ở địa phương thêm một lợi thế cạnh tranh. Nói cách khác, đây là một mô hình độc nhất, trong đó du lịch bền vững vừa trở thành một công cụ hội nhập kinh tế, vừa trở thành một phương tiện quảng bá cho khối Pháp ngữ tại Việt Nam.
Và cuối cùng, để củng cố 2 hướng chủ đạo nói trên, tức là đào tạo và hỗ trợ phát triển các tuyến du lịch, OIF dự kiến mở một trung tâm Điểm đến Du lịch Sinh thái tại Việt Nam trong năm 2026. Trung tâm này sẽ được thiết kế như một trung tâm đa năng thực thụ, với nhiều bên tham gia để thúc đẩy du lịch bền vững.
RFI : Bà có thông điệp gì gửi đến những thanh niên muốn tham gia vào lĩnh vực du lịch bền vững ?
Adjara DIOUF : Đây là một câu hỏi thú vị. Trước hết, ai cũng biết rằng du lịch bền vững có tác động mạnh mẽ đến sự phát triển kinh tế và xã hội, bởi vì tạo ra nhiều việc làm trực tiếp và gián tiếp cho thanh niên, đặc biệt là ở các vùng nông thôn và vùng sâu vùng xa. Do nhiều thanh niên và các bên liên quan ở địa phương chưa được thông tin đầy đủ về những cơ hội mà du lịch bền vững mang lại, nên điều cần thiết là phải nâng cao nhận thức và thông tin cho họ về tiềm năng của lĩnh vực này, khuyến khích họ hướng tới lĩnh vực việc làm đầy triển vọng này. Du lịch bền vững có thể thúc đẩy việc làm mới, tạo ra những nghề nghiệp mới và bồi dưỡng tài năng mới cho giới trẻ.
Tôi cũng có một số thông điệp khác. Như chúng ta đã biết, khu vực châu Á có sự đa dạng văn hóa rất lớn, với nhiều nền văn hóa, truyền thống và ngôn ngữ khác nhau, và tôi nghĩ rằng việc hiểu rõ những đặc điểm riêng này là rất quan trọng để tạo ra các sáng kiến du lịch bền vững và tôn trọng cộng đồng địa phương. Du lịch bền vững cũng làm nổi bật văn hóa địa phương, khuyến khích giới trẻ trở thành đại sứ cho di sản của chính địa phương mình.
Đây cũng là một nguồn cơ hội cho giới trẻ, ví dụ như những người muốn khởi nghiệp, phát triển các giải pháp sáng tạo trong lĩnh vực du lịch, bằng cách sử dụng công nghệ mới, để nâng cao trải nghiệm du lịch - họ rất giỏi trong lĩnh vực này - phát triển các sản phẩm du lịch mới, đồng thời bảo vệ môi trường.
Và tôi muốn nói thêm rằng tiếng Pháp cũng là một công cụ mạnh mẽ để hội nhập xã hội trong khu vực này. Thành thạo tiếng Pháp làm tăng khả năng tìm việc làm và mức thu nhập cho giới trẻ làm việc trong ngành du lịch.
RFI : Tổ chức Quốc tế Pháp ngữ (OIF) có kết nối Việt Nam với các nước Pháp ngữ khác để chia sẻ kinh nghiệm không, và theo ý kiến của bà, những kinh nghiệm quốc tế nào có thể được áp dụng hiệu quả tại Việt Nam?
Adjara DIOUF : Vâng, đây chính là hoạt động tiếp theo mà chúng tôi sẽ thực hiện. Hiện tại, chúng tôi đang trong giai đoạn thí điểm, và bước tiếp theo là kết nối các quốc gia hưởng lợi từ giai đoạn thí điểm để họ có thể trao đổi và chia sẻ kinh nghiệm tốt nhất.
Mặt khác, Việt Nam rất mạnh về du lịch cộng đồng và có thể truyền cảm hứng cho các quốc gia nói tiếng Pháp khác. Cũng có những kinh nghiệm từ các nơi khác có thể được áp dụng tại Việt Nam. Ví dụ, kinh nghiệm quản lý các công viên quốc gia của Canada là rất đáng khích lệ. Việc áp dụng hạn ngạch khách tham quan, hệ thống đặt chỗ, các quy định nghiêm ngặt và giáo dục môi trường giúp bảo tồn hệ sinh thái. Ví dụ, kiểu sáng kiến này có thể được áp dụng tại các địa điểm rất nổi tiếng vào những thời điểm nhất định trong năm, khi lượng khách du lịch rất đông, để hạn chế tác động của du lịch đại chúng.
Một sáng kiến khác cũng cho phép giải quyết đáng kể vấn đề rác thải, đặc biệt là rác từ sản phẩm nhựa dùng một lần, vẫn còn rất phổ biến ở nhiều địa điểm du lịch. Nhìn vào các ví dụ từ các quốc gia khác như Pháp, Maroc và Rwanda, tôi nghĩ rằng có thể giải quyết đồng thời các vấn đề này để dần dần giảm thiểu việc sử dụng nhựa thông qua các chính sách công và cũng khuyến khích các nhà quản lý địa điểm áp dụng các tiêu chuẩn môi trường thông qua các chứng nhận như Nhãn hiệu Điểm đến xuất sắc.
Dự án TRILAF và làng nghề nón lá Tri Lễ
Trong số các dự án được OIF hỗ trợ, ví dụ có dự án Tri Lễ - nghề thủ công và tình đoàn kết Pháp ngữ vì một tương lai bền vững - gọi tắt là TRILAF, một sáng khiến do Khoa Ngôn ngữ và Văn hóa Pháp, trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Quốc gia Hà Nội, triển khai, hướng tới việc kết nối bảo tồn nghề thủ công truyền thống với phát triển du lịch cộng đồng bền vững. Tri Lễ là một làng nằm ở huyện Thanh Oai cũ, hiện nay thuộc xã Dân Hòa, cách trung tâm thành phố Hà Nội khoảng 30 km.
Trả lời phỏng vấn đài RFI Tiếng Việt, tiến sĩ Đàm Minh Thủy, trưởng khoa Ngôn ngữ và Văn hóa Pháp, trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Quốc gia Hà Nội, cho biết :
« Điểm đặc biệt của dự án là có sự tham gia của nhiều bên, cụ thể là có sự tham gia của chính quyền địa phương, của người dân, của doanh nghiệp du lịch và sinh viên, cùng giảng viên của trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội, qua đó hình thành một hệ sinh thái hợp tác gắn kết giữa giáo dục, văn hóa và phát triển kinh tế.
Và chúng tôi cũng đặc biệt vui mừng khi định hướng của dự án thì hoàn toàn phù hợp với quy hoạch tổng thể của thủ đô Hà Nội « Tầm nhìn 100 năm », trong đó nhấn mạnh việc bảo tồn làng nghề gắn với phát triển du lịch nông thôn như là một trụ cột quan trọng để gìn giữ bản sắc văn hóa và thúc đẩy kinh tế địa phương. Và chúng tôi tin tưởng rằng là với sự đồng hành của chính quyền, của cộng đồng và các đối tác, Tri Lễ sẽ từng bước trở thành một mô hình tiêu biểu về phát triển làng nghề gắn với du lịch bền vững và góp phần lan tỏa giá trị của văn hóa Việt Nam trong nước và quốc tế.
Trường Đại học Ngoại ngữ Đại học Quốc gia Hà Nội giữ vai trò trung tâm trong dự án. Nhà trường là đơn vị khởi xướng ý tưởng này, xây dựng này và phát triển dự án cùng với các đối tác địa phương và cộng đồng pháp ngữ. Và đồng thời, chúng tôi cũng đảm nhiệm vai trò là điều phối chung và triển khai các hoạt động của dự án, thông qua khoa Pháp, trường Đại học Ngoại ngữ Đại Quốc gia Hà Nội huy động các giảng viên, sinh viên cùng với các đối tác học thuật và các doanh nghiệp nhằm đồng hành cùng với làng Tri Lễ trong việc bảo tồn di sản văn hóa và phát triển du lịch cộng đồng bền vững.
Trong dự án, chúng tôi tổ chức rất nhiều hoạt động ở tập huấn về du lịch bền vững, du lịch cộng đồng, sản xuất xanh và kinh tế tuần hoàn, hay trang trí nón lá, kỹ năng đón tiếp khách du lịch và ngoại ngữ. Thông qua đó, chúng tôi mong muốn góp phần quảng bá làng nghề, với các hoạt động trung gian, văn hóa và sản xuất nội dung số, xây dựng tour du lịch và hợp tác quốc tế.
RFI : Vậy sinh viên có vai trò gì trong sự án ?
TS. Đàm Minh Thủy : Về vai trò của sinh viên và giảng viên trong dự án, có thể nói sinh viên Pháp ngữ, cụ thể là sinh viên tiếng Pháp của khoa chúng tôi thì giữ vai trò trung tâm trong dự án Trilaf. Các em không chỉ là người được hưởng lợi từ dự án, mà còn là những tác nhân tích cực và đồng kiến tạo các hoạt động trong dự án. Cụ thể TRILAF tạo nên một môi trường học tập rất là thực tiễn, bổ ích, nơi mà sinh viên có thể vận dụng các kiến thức tiếng Pháp kiến thức về truyền thông du lịch và đóng vai trò là trung gian văn hóa và ứng dụng tất cả những kiến thức, cũng như là kỹ năng của các em, vào tình huống thực tế.
Ví dụ sinh viên du lịch thì được tham gia khảo sát thực địa nghiên cứu về các tiềm năng du lịch của làng này và của nghề làm nón lá truyền thống, hoặc là các em cũng tham gia những cái cuộc thi về sáng tạo video để quảng bá cho làng nghề và trực tiếp gặp gỡ, học hỏi và trao đổi, trò chuyện cùng với người dân địa phương để có thể hiểu hơn về làng, cũng như về nghề làm nón lá.
Sinh viên truyền thông thì xây dựng những kế hoạch hay những sản phẩm truyền thông để quảng bá dự án thông qua việc sản xuất nội dung số, hay là quản lý trang mạng xã hội và có hoạt động tôn vinh văn hóa. Bên cạnh hai đối tượng, hai nhóm sinh viên này, chúng tôi cũng huy động các sinh viên ở trong khoa để tham gia tích cực vào việc tổ chức các buổi tập huấn cho người dân.
Một số em có thể trực tiếp hỗ trợ các hoạt động sáng tạo, như trang trí nón lá, và thông qua tất cả những hoạt động này thì sinh viên có thể phát triển kỹ năng về nghề nghiệp, kỹ năng về tổ chức, năng lực giao tiếp liên văn hóa, cũng như tinh thần trách nhiệm xã hội và sự thấu hiểu thực tế của địa phương và góp phần vào những hoạt động về cộng đồng. Chúng tôi nghĩ rằng là đây là những chìa khóa, là những hành trang quan trọng để sinh viên có thể dễ dàng tìm được những công việc phù hợp trong tương lai.
Đối với giảng viên thì dự án cũng tạo điều kiện để phát triển các phương pháp giảng dạy liên ngành, gắn thực tiễn xã hội và cộng đồng. TRILAF góp phần tăng cường mối liên hệ giữa đào tạo nghiên cứu và phục vụ cộng đồng.
Đây chính là 3 hướng mà chúng tôi muốn kết hợp với nhau ở trong bối cảnh đào tạo đại học hiện nay. Đồng thời, dự án cũng mở ra nhiều cơ hội hợp tác quốc tế, hợp tác giữa nhà trường và doanh nghiệp mở ra những hướng nghiên cứu ứng dụng trong các lĩnh vực du lịch bền vững, giáo dục liên văn hóa và Pháp ngữ học.
RFI : Dự án TRILAF có thể mang lại lợi ích gì cho làng nghề nón lá Tri Lễ ?
TS. Đàm Minh Thủy : Trên thực tế chúng tôi cũng đã triển khai rất nhiều hoạt động và những hoạt động này cũng mang lại những lợi ích cho người dân Tri Lễ. Trước hết là dự án TRILAF có những tác động tích cực về mặt kinh tế, xã hội và văn hóa cho người dân Tri Lễ, thông qua việc tôn vinh nghề làm nón lá truyền thống.
Chúng ta đều biết nón lá truyền thống là một di sản văn hóa quan trọng của Việt Nam. Và nón lá truyền thống thì được sản xuất tại rất nhiều các làng nghề hay là các vùng miền khác nhau của Việt Nam, và ở mỗi một vùng miền hay làng nghề thì có những cái đặc trưng riêng. Tuy nhiên, hiện nay, với sự phát triển của cuộc sống hiện đại, chúng ta cũng không thể phủ nhận rằng là nón lá ngày càng bị mai một.
Ví dụ như là ở làng Tri Lễ còn rất nhiều hộ gia đình làm nghề làm nón lá. Tuy nhiên, khi chúng tôi đến làm việc và khảo sát thì thấy rằng đa số là phụ nữ, cũng có cả nam giới nhưng là những người đã nhiều tuổi, từ khoảng 50-60 tuổi trở lên, thậm chí có những người 80 tuổi vẫn làm. Còn thanh niên và những người trong độ tuổi lao động thì họ đi làm những nghề khác. Thế nên, chúng tôi nghĩ rằng có nguy cơ về sự mai một của nghề truyền thống thủ công.
Chính vì vậy, chúng tôi cũng cố gắng xây dựng các hoạt động về truyền thông, hay quảng bá về du lịch thông qua những hoạt động về đào tạo, để các sản phẩm của làng ngày càng được khách du lịch trong và ngoài nước biết nhiều hơn. Dự án cũng góp phần cải thiện đời sống của người dân Tri Lễ, thông qua phát triển du lịch cộng đồng với các hoạt động như là đón tiếp khách tham quan, hay là trình diễn nghề thủ công truyền thống, hoặc là tổ chức những trải nghiệm văn hóa và tham quan làng nghề.
Những hoạt động này sẽ giúp đa dạng hóa kinh tế địa phương và mở ra nhiều cơ hội về nghề nghiệp mới. Đặc biệt là dự án TRILAF quan tâm nhiều và đối tượng hưởng lợi chủ yếu là phụ nữ và thanh niên, những lực lượng giữ vai trò quan trọng cho các hoạt động thủ công và du lịch của làng.
Chúng tôi tổ chức các khóa tập huấn về du lịch bền vững, về truyền thông, về kỹ năng đón tiếp khách du lịch, hay những sáng tạo thủ công trang trí nón lá, để giúp người dân nâng cao những kỹ năng của mình, để phát huy nghề truyền thống và tăng cường khả năng tự chủ kinh tế. Chúng tôi tin tưởng rằng về lâu dài thì dự án cũng sẽ khuyến thích được nhiều người trẻ quay trở lại với quê hương để tham gia và phát triển địa phương, gìn giữ các tri thức truyền thống.
Cuối cùng thì TRILAF hướng tới việc xây dựng Tri Lễ thành một mô hình du lịch bền vững và đoàn kết, dựa trên 3 nền tảng chính : bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể, nâng cao năng lực cộng đồng địa phương và phát triển các hoạt động du lịch thân thiện với môi trường.
RFI : Dự án TRILAF có kết nối được với các doanh nghiệp du lịch để phát triển du lịch cho làng nghề nón lá Tri Lễ ?
TS. Đàm Minh Thủy : Như tôi đã nói thì trong dự án này có sự phối hợp chặt chẽ giữa các bên, đó là chính quyền địa phương, trường Đại học ngoại ngữ Đại Quốc gia Hà Nội và các doanh nghiệp du lịch.
Đối với các doanh nghiệp du lịch thì chúng tôi cũng đã có rất nhiều buổi trao đổi thảo luận. Một số đại diện của các công ty du lịch cũng cùng với chúng tôi đến làm việc với địa phương, trước hết là tập huấn cho người dân về du lịch cộng đồng, du lịch bền vững và những đặc điểm của khách du lịch Pháp hay là khách sử dụng Pháp ngữ.
Đồng thời, các đơn vị lữ hành cũng hỗ trợ dự án, xây dựng những tour du lịch và tư vấn cho địa phương, cũng như cho dự án những phương án thiết kế tour, hay là những điều kiện về cơ sở vật chất và cơ cấu tổ chức để có thể đón khách du lịch.
Chúng tôi hi vọng từ giờ đến cuối cuối năm các công ty du lịch cũng sẽ gửi được những đoàn khách du lịch đầu tiên để đến làng nghề Tri Lễ.
Qua trao đổi với giám đốc của công ty Horizon Travel, một công ty cũng tương đối lớn về du lịch và đặc biệt là có một số lượng khách Pháp rất lớn, chúng tôi cũng được biết công ty đã tổ chức rất nhiều đoàn tour đến làng Chuông, một làng nón lá cũng đã rất phát triển. Thậm chí là mỗi năm riêng công ty này có thể tổ trước khoảng 500 tour du lịch đến làng Chuông.
Sau khi khảo sát ở làng Tri Lễ thì công ty Horizon Travel cũng đánh giá rất cao tiềm năng của làng Tri Lễ, cũng như của xã Dân Hòa, bởi vì những đặc điểm nghề làm nón lá thủ công truyền thống ở Tri Lễ rất là phong phú và hiện nay việc sản xuất nón lá vẫn hiện hữu trong từng gia đình. Ngôi làng cũng rất đẹp, với những đường bờ đê hay những ngôi nhà cổ, và những người dân, thậm chí đến 80-90 tuổi, vẫn ngồi đan nón lá. Đó là những tiềm năng rất tốt.
Và ngay bên cạnh làng Tri Lễ thì là làng Ước Lễ nổi tiếng với nghề làm giò chả, với những cổng làng rất đẹp và có truyền thống, hay là những địa danh khác của xã Dân Hòa. Chúng tôi đánh giá tiềm năng về du lịch rất là phát triển và cũng có thể thu hút được nhiều khách du lịch trong thời gian tới.
Bản thân công ty Horizon Travel cũng đã cam kết với chúng tôi rằng sẽ đưa làng Tri Lễ vào chương trình tour của mình. Ngoài công ty này, chúng tôi cũng đã trao đổi với một số doanh nghiệp du lịch khác và họ đều rất ủng hộ, sẵn sàng tham quan khảo sát và xây dựng những tuyến tour ở làng Tri Lễ.