Tạp chí Việt Nam

Neueste Episode
96 Episoden
- Việt Nam đã tái khởi động 2 dự án nhà máy điện hạt nhân đầu tiên, Ninh Thuận 1 và Ninh Thuận 2, đồng thời dự trù sau đó có thể sẽ tiến tới triển khai thêm các công nghệ lò phản ứng module nhỏ (SMR). Chưa biết các dự án đó sẽ được hoàn thành đúng kỳ hạn hay không, nhưng có nguy cơ Việt Nam sẽ thiếu hụt nhân lực để vận hành các nhà máy điện hạt nhân.
Việt Nam đã bắt đầu nghiên cứu phát triển điện hạt nhân từ đầu những năm 2000, nhằm đa dạng hóa nguồn cung và đáp ứng nhu cầu điện trong dài hạn. Sau quá trình khảo sát, tỉnh Ninh Thuận (cũ) đã được lựa chọn để xây dựng 2 nhà máy điện hạt nhân đầu tiên. Năm 2009, Quốc Hội thông qua chủ trương đầu tư dự án Điện hạt nhân Ninh Thuận. Tuy nhiên, đến năm 2016, dự án bị tạm dừng "do điều kiện chưa cho phép". Mãi đến năm 2024, Quốc Hội Việt Nam mới thông qua quyết định khởi động lại dự án Điện hạt nhân Ninh Thuận. Mục tiêu đề ra là đưa hai nhà máy này vào hoạt động vào năm 2035.
Trước mắt Việt Nam sẽ hợp tác với Nga để xây dựng Nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 1. Ngày 23/3/2026, Việt Nam và Nga đã ký Hiệp định liên Chính phủ về hợp tác xây dựng nhà máy điện hạt nhân trên lãnh thổ Việt Nam. Nhà máy sẽ được xây dựng bằng công nghệ của Nga và được tài trợ bằng khoản vay từ Nga. Theo hãng thông tấn TASS, tại Diễn đàn Kinh tế phương Đông EEF 2026 (01-04/09/2026), giám đốc điều hành Tập đoàn Năng lượng Hạt nhân Nhà nước Nga Rosatom, ông Alexey Likhachev, cho biết công tác thi công hợp đồng xây dựng và vận hành Nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 1 “đang được tiến hành khẩn trương.” Cụ thể, "công tác soạn thảo hợp đồng và đạt được các thỏa thuận ràng buộc pháp lý về tiến độ và cấu trúc dự án đang được tiến hành khẩn trương. Lò phản ứng thế hệ III+ VVER-1200 đã được chọn cho dự án". VVER*1200 là một lò phản ứng áp dụng công nghệ mới nhất của Nga, có công suất khoảng 1.200 Megawatt.
Còn về dự án Ninh Thuận 2, sau khi Nhật Bản rút, chính phủ Việt Nam hiện đang xem xét chọn một đối tác công nghệ "phù hợp". Hàn Quốc (với tập đoàn KEPCO) là một trong những đối tác tiềm năng đã bày tỏ mong muốn và sẵn sàng hợp tác toàn diện trong các khâu từ xây dựng nhà máy, vận hành, bảo đảm an toàn, cho đến đào tạo nhân lực.
Tuy nhiên, trả lời RFI Việt ngữ ngày 09/10/2026, giáo sư Phạm Duy Hiển, nguyên Viện trưởng Viện nghiên cứu hạt nhân Đà Lạt, cho rằng Việt Nam không thể nào hoàn tất được dự án nhà máy điện hạt nhân vào thời điểm 2035 như dự kiến, vì từ đây đến đó chỉ còn 10 năm:
"Kinh nghiệm từ những nước đã làm như Bangladesh, từ lúc động thổ, bắt đầu xây dựng trên công trường thì phải mất 7 năm sau may ra mới đưa nhà máy vào vận hành được. Bangladesh đã lùi lại kế hoạch vận hành bao nhiêu năm rồi, lần này định là vào tháng 12 năm nay, nhưng không biết có làm được hay không. Mà trước khi động thổ thì cần phải có một thời gian chuẩn bị nhiều, kể cả việc xét duyệt dự án thì phải mất mấy năm. Cho nên không thể nào năm 2035 mà xong được.
Dự án nhà máy điện thứ hai thì Nhật đã rút lui rồi, bây giờ chắc là Hàn Quốc sẽ nhảy vào được thôi. Chưa có thông tin chính thức gì về chuyện này. Nhưng mà thực ra tôi nghĩ Việt Nam chỉ có thể xúc tiến một lúc một nhà máy thôi, sau đó từ từ tính sau, chứ nhân lực như thế này lấy đâu ra để mà làm nhiều được!"
Một trong những vấn đề lớn nhất của Việt Nam hiện nay đó là đào tạo đủ nguồn nhân lực để vận hành các nhà máy điện hạt nhân một khi hoàn thành. Theo báo chí trong nước, trong cuộc họp báo của bộ Khoa Học và Công Nghệ tháng 9 vừa qua, ông Trần Chí Thành, Viện trưởng Viện Năng lượng Nguyên tử Việt Nam, đã nhìn nhận: "Kế hoạch quy hoạch phát triển, ứng dụng năng lượng nguyên tử đã được ban hành, có đặt ra nhiệm vụ về đào tạo và phát triển nguồn nhân lực. Tuy nhiên, việc triển khai đến nay vẫn chưa thực sự hiệu quả. Một phần vì thiếu kinh phí, phần khác do chưa xác định được đầy đủ những nhiệm vụ cụ thể và nhu cầu đối với công nghệ hạt nhân ở các bộ, ngành khác."
Theo thẩm định, một nhà máy điện hạt nhân có thể cần khoảng 1.000 người, trong đó phần lớn là nhân viên vận hành, kỹ thuật và hỗ trợ (khoảng 700-800 người), còn đội ngũ nhân lực cốt lõi khoảng 200-300 người.
Theo ông Trần Chí Thành, trước đây, Việt Nam đã từng cử gần 100 người sang Nga và Nhật Bản để đào tạo về điện hạt nhân. Tuy nhiên, sau khi trở về, một bộ phận trong số này đã chuyển sang làm việc ở những lĩnh vực khác. Số người quay lại làm việc trong lĩnh vực hạt nhân hiện có lẽ chỉ còn khoảng 30%. Vấn đề là ở Việt Nam hiện nay chưa có những chương trình đào tạo về kỹ thuật hạt nhân bài bản như các quốc gia khác, cho nên trước mắt vẫn phải đưa người đi đào tạo ở nước ngoài, chủ yếu chắc sẽ là ở Nga.
Nhưng theo giáo sư Phạm Duy Hiển, quan trọng hơn hết là đào tạo được những chuyên gia đủ khả năng thẩm định để xét duyệt dự án nhà máy điện hạt nhân:
"Vấn đề này là tùy thuộc vào cách làm điện hạt nhân như thế nào. Nếu như làm điện hạt nhân để mà dần dần tiến đến làm chủ được công nghệ, tự anh có thể thay thế một phần công việc thì khác. Còn nếu như mà làm kiểu như để cho người ta chỉ đâu mình làm đó thì khác. Về cách thứ nhất, hai nước Hàn Quốc và Trung Quốc rất thành công, tức là họ có phần chuyển giao công nghệ từ bên ngoài.
Sau khi chuyển giao công nghệ đó một thời gian tương đối ngắn thì họ có thể làm chủ được công nghệ, như là Hàn Quốc có thể tự xây dựng được nhà máy điện hạt nhân, thậm chí còn xuất khẩu được sang các nước khác. Trung Quốc cũng tự xây dựng được và do nhu cầu xây dựng trong nước rất lớn cho nên họ tự lực cánh sinh được.
Nhưng Việt Nam chưa chắc đã bắt chước như thế được, bởi vì lực lượng công nghiệp của Việt Nam thấp hơn nhiều so với hai nước đó. Thứ hai, nếu muốn làm điện hạt nhân mà dần dần làm chủ công nghệ thì trước hết phải có những người làm trong cái gọi Ủy ban an toàn quốc gia, tức là cơ quan tiếp nhận các kế hoạch của nước ngoài để tự xem xét, thẩm định, phán xét được các dự án đó, nhất là về mặt môi trường, về mặt địa chất. Hiện nay Việt Nam ngay chỗ đấy là cũng đã thiếu người rồi.
Cũng đã có kế hoạch đào tạo, nhưng ta không nên hiểu đào tạo là cử người đi học ở nước ngoài. Đào tạo ở đây là phải thông qua làm việc trong nước, mà muốn làm như vậy thì Việt Nam phải cho chạy được một lò phản ứng công suất lớn, chứ còn công suất như lò Đà Lạt thì chỉ làm những việc ứng dụng thôi. Trước đây chính ông Putin, lúc bấy giờ đang làm thủ tướng, đã đề nghị Nga giúp Việt Nam xây một trung tâm hạt nhân như thế.
Câu chuyện này đã nói từ cái năm 2010, nhưng cho đến bây giờ cũng chưa đâu vào đâu cả. Kinh nghiệm của nhiều nước là muốn có được người giỏi làm chủ được công nghệ thì phải đào tạo qua những cơ sở như thế. Chẳng hạn Bắc Triều Tiên cũng làm theo cách như vậy."
Theo báo chí trong nước, Việt Nam đang triển khai dự án xây dựng một lò hạt nhân nghiên cứu mới tại Đồng Nai, với công suất dự kiến cao hơn khoảng 30 lần so với lò Đà Lạt.
Nhưng đối với điện hạt nhân, quá trình đào tạo không thể thực hiện trong thời gian ngắn. Đội ngũ kỹ sư cần nhiều năm học tập, thực hành và tích lũy kinh nghiệm trước khi có thể đảm nhiệm các vị trí chuyên môn tại nhà máy.
Về điểm này, giáo sư Phạm Duy Hiển ghi nhận:
" Như Nga đã làm cho Bangladesh, tức là họ đưa những người chưa biết gì sang Nga để đào tạo cho các cơ quan pháp quy ở Bangladesh. Còn mình thì bây giờ sắp đến thì chưa biết sẽ làm như thế nào, nhưng phải có đàm phán về những chuyện đó. Chứ còn đào tạo người để điều khiển lò phản ứng thì không khó.
Ta phải phân biệt với việc đào tạo những người để vận hành nhà máy điện hạt nhân. Còn những người tiếp thu được công nghệ và phát triển cho mình để làm chủ được công nghệ thì phải đào tạo cách khác, mất rất nhiều thời gian.
Nước Nga có những cơ sở đào tạo tốt lắm, ở nhiều nơi lắm. Trước đây mình đã dự định làm ( nhà máy điện hạt nhân ) rồi không làm nữa, nhưng mình cũng đã đưa người sang đào tạo bên đấy nhiều. Bây giờ cũng lâu rồi, mười mấy năm nay những người đó phân tán đi đâu hết. Nhưng đó cũng chỉ là những người được đào tạo để vận hành lò phản ứng." - Căng thẳng thương mại Mỹ - Trung giúp Việt Nam hưởng lợi từ chiến lược “Trung Quốc+1” của các doanh nghiệp nước ngoài. Nhiều doanh nghiệp Trung Quốc cũng chuyển hoạt động kinh doanh sang Việt Nam để “lách” các biện pháp hạn chế xuất khẩu trực tiếp từ Trung Quốc. Tính đến cuối tháng 09/2026, tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đăng ký tại Việt Nam đạt 50,36 tỷ đô la, tăng 76,4% so với cùng kỳ năm trước.
Đây là chiến lược ngoại giao đa chiều và tiếp cận đa hướng, “giữ thái độ cởi mở, duy trì hợp tác kinh tế với càng nhiều đối tác càng tốt”, theo nhận định của Ted Osius, nguyên đại sứ Mỹ tại Việt Nam, hiện là nhà đầu tư kiêm cố vấn tại thành phố Hồ Chí Minh, được Bloomberg trích dẫn ngày 11/07/2026. Trong chiến lược này, Việt Nam cố gắng duy trì cân bằng giữa hai cường quốc Mỹ và Trung Quốc, đồng thời là hai đối thủ thương mại. Mỹ giữ vai trò quan trọng vì là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam, trong khi Trung Quốc là đối tác thương mại lớn nhất, đặc biệt trong lĩnh vực cung cấp thiết bị điện tử.
Trong cuộc cạnh tranh giữa hai cường quốc, Việt Nam bị chỉ trích là “sân sau” cho hàng Trung Quốc xuất khẩu sang Hoa Kỳ. Thặng dư thương mại của Việt Nam với Mỹ cao nhất trong số các đối tác thương mại của Washington, khiến Mỹ đe dọa áp thuế cao. Gần đây, sau chuyến công tác tới New York của chủ tịch nước Tô Lâm, Hà Nội thông báo hai bên sắp đạt được thỏa thuận về thuế. Trả lời Bloomberg, ông Tô Lâm cho biết Việt Nam cam kết mua thêm các mặt hàng công nghệ cao như máy bay để thu hẹp thâm hụt thương mại. Ông cho rằng “hoạt động xuất khẩu của Việt Nam phù hợp với nhu cầu của Mỹ và không cạnh tranh trực tiếp với các sản phẩm của Hoa Kỳ”.
Đọc thêmViệt Nam : Tổng bí thư, chủ tịch nước Tô Lâm chuẩn bị một vòng công du Âu – Mỹ
Ngay sau đó, tổng thống Mỹ Donald Trump trải thảm đỏ, đón tiếp trọng thị chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình. Hai nước cũng gia hạn đình chiến thương mại. Liệu những dấu hiệu hòa hoãn này có lợi cho Hà Nội hay không ?
Trả lời RFI Tiếng Việt, tiến sĩ Vũ Khang, chuyên nghiên cứu về Việt Nam, học giả thính giảng tại Khoa Chính trị học Đại học Boston tại Hoa Kỳ, nhận định Hà Nội chỉ có thể hưởng lợi khi mối quan hệ của hai đại cường Trung Quốc và Mỹ không quá hòa dịu cũng không quá đối đầu.
RFI : Trong chuyến công du Mỹ từ ngày 23-25/09 của chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình, tổng thống Donald Trump có nhiều cử chỉ hòa dịu. Nếu Washington và Bắc Kinh tiếp tục xu hướng hòa dịu, điều đó sẽ làm thay đổi bài toán cân bằng chiến lược của Hà Nội như thế nào ? Việt Nam sẽ có thêm dư địa hay là gặp nhiều thách thức hơn trong việc thúc đẩy quan hệ với Hoa Kỳ ?
Tiến sĩ Vũ Khang : Quan hệ Mỹ-Trung có ảnh hưởng trực tiếp đến chính sách ngoại giao đa phương hóa, đa dạng hóa của Việt Nam. Nền tảng chính sách này dựa vào một trật tự thế giới mở, nơi mà các cường quốc tôn trọng quyền lợi của các nước nhỏ và luật pháp quốc tế. Việt Nam không muốn một lần nữa bị đẩy vào thế bị động nếu như Mỹ và Trung Quốc bắt tay nhau và chia nhỏ thế giới thành các khu vực ảnh hưởng riêng biệt hoặc là hai nước này nổ ra một xung đột và bắt buộc Việt Nam phải chọn phe.
Việt Nam được hưởng lợi nhiều nhất khi mà quan hệ Mỹ-Trung không quá thân thiện hay là cũng không quá thù địch. Trong trường hợp này, Việt Nam có thể hưởng lợi từ chuyển dịch vốn và nhà máy từ Trung Quốc và vẫn có thể duy trì được quyền tiếp cận thị trường Mỹ.
Đọc thêmViệt Nam cố giữ cân bằng trong quan hệ với Mỹ và Trung Quốc
Do vậy, việc Mỹ-Trung xoa dịu trong thời điểm áp lực thương chiến và địa-chính trị vấn đề Đài Loan đang ngày càng gia tăng sẽ giúp Việt Nam có thêm dư địa để giữ cả quan hệ với Trung Quốc và Mỹ ổn định. Và tất nhiên, từ góc nhìn của Việt Nam, việc hai nước này có mối quan hệ thân thiết với Hà Nội vẫn là điều ưu tiên trên hết.
RFI : Tổng bí thư-chủ tịch nước Việt Nam Tô Lâm cũng có chuyến công tác New York từ ngày 20 đến 23/09. Chuyến đi của ông Tô Lâm có tạo ra được bước đột phá mới trong quan hệ Việt - Mỹ ?
Vũ Khang : Chuyến đi của tổng bí thư-chủ tịch nước Tô Lâm đến Mỹ tiếp tục khẳng định đường lối đối ngoại độc lập tự chủ của Việt Nam và trong đó, Mỹ là một đối tác rất là quan trọng. Nếu nhìn vào lịch trình của ông Tô Lâm, một trong những chủ đề thảo luận chính lần này chính là mức thuế quan mà Mỹ có thể áp đặt lên Việt Nam.
Theo số liệu từ Cục Hải quan Việt Nam, chỉ trong 8 tháng đầu năm 2026, Việt Nam đã đạt mức thặng dư vượt trên 100 tỷ đô la Mỹ, tăng gần 23% so với cùng kỳ năm trước. Và mức thặng dư này đã đẩy Việt Nam lên vị trí số 1, cao hơn cả những đối tác thương mại lớn khác của Mỹ như là Trung Quốc, Mêhicô, Đài Loan về thâm hụt thương mại.
Đọc thêmĐối tác châu Á giúp Việt Nam tạo thế cân bằng với nhà đầu tư phương Tây
Ngoài vấn đề thuế quan, ông Tô Lâm cũng bày tỏ mong muốn doanh nghiệp Mỹ hỗ trợ Việt Nam đào tạo chuyên môn để có thể giúp Việt Nam tăng vị trí cao hơn trong chuỗi cung ứng toàn cầu và Mỹ sẽ tiếp tục mở rộng thị trường cho hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam. Đổi lại, Việt Nam vẫn sẽ sẵn sàng nhập khẩu sản phẩm công nghệ và dịch vụ từ Mỹ để làm giảm thâm hụt thương mại giữa hai bên. Tuy vậy, hiện giờ vẫn chưa có một thỏa thuận thuế quan nào đạt được giữa Mỹ và Việt Nam.
RFI : Liệu sau chuyến công du này, vấn đề thuế quan Mỹ đối với Việt Nam sẽ tiến triển như thế nào trong thời gian tới ?
Vũ Khang : Việt Nam mong muốn biến vấn đề thuế quan trở thành một lĩnh vực đôi bên cùng có lợi. Việt Nam muốn gia tăng giá trị sản phẩm xuất khẩu, đổi lại Mỹ có thể bán được nhiều hàng hóa và dịch vụ cho Việt Nam hơn. Tuy vậy, chính sách thuế quan của tổng thống Donald Trump nói chung lại luôn đặt quyền lợi của Mỹ lên trên hết, bất chấp ảnh hưởng tới hình ảnh hoặc là lòng tin của các đồng minh và đối tác đối với Mỹ.
Việc tổng thống Trump sẵn sàng đánh thuế quan lên tất cả các đồng minh lâu năm cho thấy sự tương đồng về lợi ích chiến lược chưa chắc đã bảo đảm một mức thuế quan hợp lý cho cả hai bên. Chính sự khó đoán này khiến việc đạt được một thỏa thuận thuế quan rất là khó khăn đối với Việt Nam bởi vì nếu như lợi ích chiến lược hội tụ không thể bảo đảm cho một thỏa thuận thuế quan hợp lý thì chúng ta không có những cơ sở để đoán là Mỹ có thể áp đặt thuế quan một cái mức chấp nhận được.
Đọc thêmBa cuộc điều tra của Mỹ và tác động đến thương mại với Việt Nam
Và khó khăn hơn cho Việt Nam là việc Việt Nam luôn bị đẩy vào thế chống đỡ, kể cả khi Tòa án Tối cao đã bác bỏ mức thuế quan 20% mà Mỹ áp đặt đối với Việt Nam, bởi vì chính sách của tổng thống Trump phần lớn rất là khó đoán. Nếu nhìn rộng hơn về vấn đề thuế quan và quan hệ tay ba Mỹ, Việt Nam và Trung Quốc, chúng ta có thể thấy Việt Nam hoàn toàn không muốn bị đặt vào một tình thế phải chọn một trong hai.
Nếu như Mỹ đặt điều kiện Việt Nam ngả về Mỹ để đổi lại một mức thuế quan thấp thì Việt Nam sẽ ngay lập tức đối diện áp lực từ Trung Quốc khi mà Bắc Kinh cũng đã cảnh cáo các quốc gia không nên theo phe Mỹ để phân tách kinh tế khỏi Trung Quốc trong trường hợp mà Mỹ sử dụng thuế quan để đạt được mục đích đó. Đối với Việt Nam, chọn bên nào cũng sẽ bất lợi.
RFI : Vậy đâu là những khác biệt và trở ngại trong quan hệ Việt - Mỹ hiện nay, bất chấp lợi ích chiến lược ngày càng hội tụ giữa hai nước ?
Vũ Khang : Vào đầu tháng 7 năm nay, tàu sân bay Mỹ George Washington đã ghé thăm cảng Đà Nẵng. Chuyến thăm này cho thấy hai quốc gia vẫn có những lợi ích chung, như là duy trì môi trường hòa bình ổn định dựa trên luật pháp quốc tế ở Biển Đông bất chấp những bất đồng về thuế quan.
Đọc thêmLần đầu tiên từ ba năm qua, một tàu sân bay Mỹ thăm Việt Nam
Cũng có những tin đồn là Việt Nam sẽ mua vũ khí sát thương từ Mỹ như máy bay F-16, máy bay vận tải C-130 hay là trực thăng S-92. Nếu như Việt Nam mua vũ khí của Mỹ trong thời gian sắp tới thì đây sẽ là một mũi tên trúng hai mục đích. Thứ nhất, Việt Nam vừa có thể hiện đại hóa và đa dạng hóa nguồn cung vũ khí khỏi Nga. Thứ hai, Việt Nam vừa có thể làm giảm thâm hụt thương mại với Mỹ.
Tuy vậy, vẫn có những khác biệt rất lớn về kỳ vọng của mối quan hệ Việt - Mỹ bất chấp những lợi ích chiến lược ngày càng hội tụ. Trong khi Mỹ mong Việt Nam có thể tham gia một liên minh chống Trung Quốc hay là ít nhất là ngả về phía Mỹ thì Việt Nam vẫn chỉ coi Mỹ là một trong nhiều đối tác chiến lược toàn diện của mình và vẫn mong muốn duy trì chính sách đối ngoại « Bốn Không », bao gồm Việt Nam sẽ không đứng về phía nước này để chống lại nước kia hoặc là Việt Nam sẽ không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự ở trên lãnh thổ của mình.
Đọc thêmViệt Nam và Hoa Kỳ, những đồng minh tình thế ?
Chính sự chênh lệch về kỳ vọng trong mối quan hệ này có thể dẫn tới những bất đồng chính sách về Trung Quốc giữa Mỹ và Việt Nam. Trong hoàn cảnh xấu nhất, Mỹ hoàn toàn có thể trả đũa Việt Nam nếu như Washington thất vọng về việc lôi kéo Hà Nội vào một liên minh chống Trung Quốc không thành. Những biện pháp trả đũa đó có thể đến từ thuế quan hay là những cấm vận về kinh tế nếu như Hà Nội không cải thiện về hồ sơ nhân quyền mặc dù là Mỹ và Việt Nam đã có những đối thoại về sự khác biệt về những vấn đề này.
RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn Tiến sĩ Vũ Khang, học giả thính giảng tại Khoa Chính trị học Đại học Boston tại Hoa Kỳ. - Hợp tác về công nghệ lượng tử giữa Việt Nam và Pháp, đặc biệt là với Khu đô thị khoa học công nghệ Paris-Saclay, đang trở thành trọng tâm trong quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện giữa Hà Nội và Paris, trong bối cảnh Việt Nam muốn đưa công nghệ lượng tử vào nhóm công nghệ chiến lược quốc gia.
Công nghệ lượng tử được coi là một trong những trụ cột chiến lược quan trọng nhất của kỷ nguyên công nghệ mới, với tiềm năng tạo ra đột phá trong an ninh mạng, tài chính, y tế, năng lượng, vật liệu mới và trí tuệ nhân tạo (AI). Công nghệ lượng tử cũng mang ý nghĩa chiến lược đối với quốc phòng, an ninh, kinh tế số và năng lực cạnh tranh quốc gia.
Do các tiềm năng to lớn đó, nhiều quốc gia như Pháp, Nga, Mỹ, Liên Hiệp Châu Âu, Trung Quốc, Nhật Bản… đã đầu tư hàng tỷ đôla vào nghiên cứu, phát triển và thương mại hóa các nền tảng tính toán lượng tử, truyền thông lượng tử và cảm biến lượng tử.
Trong chuyến thăm chính thức nước Pháp ( 10 và 11/09/2026 ), khi gặp tổng thống Emmanuel Macron, tổng bí thư đảng Cộng sản kiêm chủ tịch nước Việt Nam Tô Lâm đã đề nghị Paris “hỗ trợ Việt Nam từng bước phát triển công nghệ lượng tử.” Trong chuyến đi này, ông Tô Lâm đã đến thăm Paris-Saclay là thung lũng công nghệ và khu đô thị khoa học hàng đầu của Pháp, cụ thể là đã đến thăm Ủy ban Năng lượng nguyên tử Pháp (CEA) và trung tâm nghiên cứu của tập đoàn công nghệ Thales, để thúc đẩy hợp tác giữa hai nước về công nghệ. Khả năng hợp tác về công nghệ lượng tử đã được nêu lên trong cuộc gặp giữa lãnh đạo Việt Nam với các nhà khoa học gốc Việt làm việc tại Paris - Saclay, trong đó có giáo sư Lại Ngọc Điệp, hiện giảng dạy tại École Normale Supérieure Paris-Saclay, Đại học Paris-Saclay.
Trả lời RFI Việt ngữ qua điện thoại ngày 19/09/2029, giáo sư Lại Ngọc Điệp trước hết giải thích về tầm quan trọng của công nghệ lượng tử:
“Công nghệ lượng tử những năm gần đây được nói rất nhiều ở các nước đã phát triển rồi và các nước như Việt Nam thì cũng bắt đầu phải nói đến, bởi vì công nghệ lượng tử là một cái gì đó rất mới, có những tính chất rất ưu việt so với các công nghệ “cổ điển”. Ví dụ như máy tính lượng tử hay truyền thông lượng tử dựa vào tính chất vật lý lượng tử nên thao tác tính toán sẽ nhanh hơn rất nhiều so với các máy tính cổ điển.
Thực ra bản chất thì hiệu ứng lượng tử đã xuất hiện ở trong các công nghệ trước đây, như laser hay là các pin Mặt trời, v.v… Tuy vậy, các hiệu ứng đấy xảy ra ở trạng thái là một tập hợp nhiều hạt. Cho nên các hiệu ứng lượng tử đặc biệt thì lại không được sử dụng và quan sát được. Ngày nay, dựa trên công nghệ khoa học tiên tiến, người ta có thể thao tác các hạt vật chất ở cấp độ nhỏ nhất có thể. Ví dụ như người ta nói đến nguyên tử, hay nói đến một hạt electron, hay là ánh sáng thì người ta nói đến một hạt photon.
Khi mà công nghệ cho phép thao tác ở một hạt cơ bản như vậy thì chúng ta sẽ khai thác được hiệu ứng lượng tử. Và như vậy chúng ta có thể tạo được các sản phẩm gọi là lượng tử, ví dụ như máy tính lượng tử hay truyền thông lượng tử.
Ở các nước phát triển, người ta đã có những nền tảng về mặt lý thuyết, cũng như là công nghệ cho phép họ thực hiện được các sản phẩm lượng tử như vậy, chẳng hạn như Pháp có rất nhiều người được giải Nobel về lượng tử, có rất nhiều phòng thí nghiệm. Cho nên, khoảng 10 năm trở lại đây thì họ đã có những start-up để đưa ra các sản phẩm lượng tử, như máy tính lượng tử hay truyền thông lượng tử.
Máy tính lượng tử là một máy tính mà về mặt lý thuyết ưu việt so với máy tính cổ điển, tức là nó có thể giải quyết được các bài toán lớn mà máy tính cổ điển phải dùng đến cả 500 năm thì bây giờ máy tính năng tử nó sẽ cho cho phép giải quyết trong vòng vài phút hoặc vài giờ. Nhưng tính ưu việt đấy chỉ giải quyết các bài toán lớn, ví dụ như dự báo thời tiết, sản xuất thuốc, hay điều trị bệnh cần phải có một số lượng tính toán khổng lồ và cần một thời gian nhanh thì máy tính lượng tử sẽ phát huy được tính ưu việt.
Về truyền thông thì chúng ta biết là ngày nay internet đã phát triển rất mạnh và có lẽ là trao đổi cũng rất là thuận tiện. Nhưng truyền thông hiện tại là truyền thông “cổ điển”, tức là nếu ai đấy muốn nghe thông tin mà chúng ta trao đổi thì người ta hoàn toàn có thể nghe được. Khi chúng ta truyền tải thông tin thông qua internet thì thực ra là chúng ta đang làm các qubit vào các chùm laser, mỗi một qubit như vậy sẽ được thể hiện thông qua hàng tỷ photon. Nếu ai đấy muốn nghe trộm thì chỉ cần ngắt 1.000 photon là có thể đọc được thông tin chúng ta truyền tải, mà đối tác của chúng ta hoàn toàn không biết là có người nghe trộm. Truyền thông cổ điển là truyền thông thực ra không bảo mật.
Một số ngành nghề có nhu cầu truyền thông bảo mật hơn, như quân đội, công an, hay một số ngành nghề khác. Lúc ấy lượng tử phát huy được thế mạnh, bởi vì truyền thông bằng phương pháp lượng tử tức là thay vì gửi một tỷ photon cho một qbit, thì bây giờ chúng ta sẽ gửi một photon thôi. Photon là hạt cuối cùng của ánh sáng rồi nó không thể được chia đôi nữa, vì vậy khi chúng ta dùng một photon để truyền tải một qbit đi, nếu có ai đấy nghe trộm chúng ta hoàn toàn biết được là thông tin của chúng ta đã bị lộ.
Công nghệ lượng tử hiện được Việt Nam xếp vào nhóm công nghệ chiến lược quốc gia, theo danh mục hồi tháng 5 của Chính phủ. Hệ sinh thái lượng tử trong nước cũng đang hình thành, với Mạng lưới đổi mới sáng tạo và chuyên gia công nghệ lượng tử Việt Nam (VNQuantum) thành lập tháng 8/2025, kết nối nhà khoa học, trường đại học, doanh nghiệp và các công ty khởi nghiệp start - up. Về tiềm năng phát triển công nghệ lượng tử ở Việt Nam, giáo sư Lại Ngọc Điệp nhận định:
“Có lẽ Việt Nam sẽ gặp khó khăn, bởi vì bao nhiêu năm chúng ta đã không có điều kiện để làm nghiên cứu sâu, cho nên có rất nhiều lĩnh vực mà chúng ta thua kém các nước phát triển. Riêng về lượng tử thì lại càng kém hơn, bởi vì đó là một môn vật lý khó khăn hơn, thế hệ trẻ cũng không học nhiều, thành ra chúng ta bây giờ thiếu gần như ở tất cả các công đoạn, thiếu về công nghệ lõi, không có các phòng thí nghiệm, trang thiết bị, dây chuyền sản xuất và ngay cả nhân lực cũng không có.
Bây giờ muốn tham gia cuộc chơi này, chúng ta phải có một kế hoạch làm việc rất bài bản, để sau 5, năm 10 năm có thể bắt kịp với thế giới, để tham gia cuộc đua lượng tử và sau đấy thì sẽ mang các ứng dụng lượng tử đấy vào các ngành nghề.
Vậy thì Pháp nói chung và trung tâm công nghệ Paris-Saclay nói riêng có thể hỗ trợ như thế nào cho Việt Nam phát triển ngành công nghệ lượng tử ? Giáo sư Lại Ngọc Điệp nhấn mạnh là trong lĩnh vực này, Việt Nam phải tự lực nhiều hơn:
Nếu nói về tham gia con đường lượng tử thì Việt Nam cũng không phải là bắt đầu bằng con số 0. Chúng ta rất mạnh về mảng lý thuyết, tính toán. Tức là nhiều người làm về toán học, về lý thuyết, hoặc là tin học của Việt Nam đang tham gia vào chuỗi lượng tử này và làm rất mạnh ở phần tính toán. Thế nhưng, phần thực nghiệm, mà Việt Nam gọi là công nghệ lõi, thì chúng ta Việt Nam lại không có những phòng thí nghiệm lượng tử, cũng như không có nhân lực về thực nghiệm.
Riêng về mặt này thì Pháp lại rất mạnh, bởi vì Pháp đã có nền khoa học phát triển rất lâu đời về mặt lý thuyết cũng như thực nghiệm. Vật lý lượng tử phát triển rất mạnh ở các cấp độ, từ trường đại học cho đến các trung tâm nghiên cứu và nằm rải rác trên toàn nước Pháp.
Thế nhưng, ở Pháp có lẽ có hai cực rất mạnh về lượng tử, được thể hiện qua các giải Nobel chẳng hạn như cực Paris - Saclay hiện đang xếp số 13 của thế giới. Cực thứ hai nằm ở trong Paris cũng đã từng đoạt giải Nobel và cũng phát triển về lượng tử rất mạnh.
Paris- Saclay rất là mạnh bởi vì họ đã có hai, ba giải Nobel liên quan đến lượng tử. Ngoài các giải Nobel ra thì các nhóm nghiên cứu rất là mạnh và họ đã chuyển thành các start-up ( công ty khởi nghiệp). Nếu nói về máy tính lượng tử thì là đã có hai start-up thuộc đại học Paris - Saclay là Quandela, máy tính lượng tử dựa trên công nghệ photon, và cái công ty thứ hai là Pasqal, sản xuất máy tính điện tử dựa trên công nghệ nguyên tử.
Đại học Paris-Saclay rất mạnh cả về nghiên cứu cũng như công nghệ, khi tổng bí thư - chủ tịch nước sang thăm Pháp thì không có lý do gì lại không thăm và trao đổi với đại học Paris-Saclay, nhờ họ giúp đỡ để chúng ta có thể học tập và sau này có thể phát triển, làm việc với họ. Thế nhưng, chuyến thăm của tổng bí thư do thời gian hơi ngắn nên một số dự định ban đầu đã không được thực hiện. Tổng bí thư có gặp một số đơn vị như là Thales hay CEA ( Ủy ban Năng lượng Nguyên tử ) hay Viện Bách Khoa Paris, nhưng họ không đề cập đến công nghệ lượng tử, chỉ đề cập đến những vấn đề khác như năng lượng, không gian hay AI ( trí tuệ nhân tạo ).
Thực ra một cuộc gặp về công nghệ lượng tử đã được lên kế hoạch nhưng không thực hiện được. Chỉ có trong cuộc gặp của tổng bí thư với lại 7 chuyên gia gốc Việt ở Pháp, chúng tôi có trao đổi với tổng bí thư cùng với các cán bộ cao cấp là chúng ta có những người Việt làm việc về lĩnh vực lượng tử này, cũng như là nhiều đối tác của Pháp cũng rất là nhiệt tình đối với khoa học Việt Nam nói chung và đối với công nghệ lượng tử nói riêng. Chúng ta nên tận dụng đội ngũ khoa học gốc Việt, cũng như sự hợp tác của Pháp trong lĩnh vực lượng tử để có thể phát triển khoa học lượng tử trong nước, mà thực ra là phát triển công nghệ lõi, tức là thực nghiệm cũng như đào tạo con người. Pháp cũng coi lượng tử là một công nghệ chiến lược và họ đầu tư khá nhiều tỷ euro cho việc phát triển công nghệ này. Vì vậy họ cũng chỉ có thể giúp đỡ chúng ta ở một phần nào đấy, tức là có thể giúp đào tạo nghiên cứu sinh hoặc là đào tạo master.
Tôi nghĩ rằng Việt Nam, như cuộc trao đổi của chúng tôi với tổng bí thư, phải phát triển công nghệ lượng tử một cách độc lập, tự lực, bằng chính con người của Việt Nam, hoặc tận dụng nguồn trí thức Việt Kiều, những người tâm huyết muốn phát triển công nghệ đó cho Việt Nam.
Như giáo sư Lại Ngọc Điệp có nói ở trên, trong số hai start-up ở Paris-Saclay, có công ty Quandela chuyên phát triển công nghệ máy tính lượng tử sử dụng photon. Theo báo chí Việt Nam, trong khuôn khổ chuyến thăm Pháp của ông Tô Lâm, lãnh đạo tỉnh Gia Lai đã đến tham quan nhà máy sản xuất công nghệ lượng tử của Quandela, tìm kiếm cơ hội hợp tác trong lĩnh vực lượng tử. Chuyến thăm diễn ra ngay trước thời điểm triển khai máy tính lượng tử quang tử Âu Cơ, dự kiến được thiết lập tại Trường Đại học Quang Trung (QTU), tỉnh Gia Lai, thông qua hợp tác giữa Quandela và với công ty khởi nghiệp Quanova của Việt Nam, với sự hỗ trợ tài chính của Nam Á Bank.
Thỏa thuận hợp tác giữa Quandela và Quanova đã được chính thức hóa trong khuôn khổ Diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam – Pháp, nhân chuyến thăm Pháp của tổng bí thư, chủ tịch nước Tô Lâm. Theo thỏa thuận, Quanova đóng vai trò là nhà tích hợp chiến lược cho Quandela tại thị trường Việt Nam, dựa trên nền tảng đã được triển khai giữa Quandela và các đối tác Việt Nam. Một trong những sáng kiến cụ thể đầu tiên trong khuôn khổ hợp tác với Quanova là chương trình đào tạo công nghệ lượng tử tại Trường Đại học Quang Trung.
Quanova sẽ đại diện cho Trường Đại học Quang Trung (QTU) và Nam A Bank hợp tác cùng Quandela triển khai các hoạt động phát triển, tích hợp và thương mại hóa các giải pháp dựa trên công nghệ tính toán lượng tử quang học. - Úc và Việt Nam tăng cường hợp tác trong 3 lĩnh vực trọng điểm: Khai thác khoáng sản thiết yếu, công nghệ bán dẫn và công nghệ mới nổi, xây dựng chuỗi cung ứng chip. Đây cũng là những nội dung chính trong kế hoạch 10 nhóm công nghệ chiến lược nhằm nâng cao năng lực tự chủ của Việt Nam. Úc nổi tiếng về công nghệ khai khoáng và vị thế cường quốc tầm trung, tạo điều kiện thuận lợi cho Việt Nam hợp tác mà không chịu áp lực phải “chọn phe” giữa Mỹ và Trung Quốc.
Tuyên bố chung về nâng cao sức chống chịu kinh tế và Tuyên bố tầm nhìn kết nối khoa học công nghệ đổi mới sáng tạo, được ký nhân chuyến công du Úc của tổng bí thư-chủ tịch nước Tô Lâm vào tháng 08/2026, mở ra “tiềm năng rất lớn”.
Trả lời phỏng vấn RFI Tiếng Việt, tiến sĩ Nguyễn Thế Phương, chuyên ngành an ninh hàng hải, Đại học New South Wales, Canberra, Úc, nhận định hai tuyên bố trên “bao hàm yếu tố khai thác khoáng sản đất hiếm và chuyển giao công nghệ”.
Khai thác khoáng sản thiết yếu
Khoáng sản thiết yếu được đặc biệt chú trọng do nhu cầu chung gia tăng và Việt Nam thúc đẩy chuyển đổi số, công nghệ xanh. Nghị định ngày 02/07/2025 liên quan đến Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Địa chất và Khoáng sản nêu rõ : “Khoáng sản chiến lược quan trọng gồm khoáng sản phóng xạ, đất hiếm và các khoáng sản thiết yếu khác phục vụ phát triển kinh tế - xã hội bền vững và tăng cường quốc phòng, an ninh của đất nước”. (1)
Việt Nam có trữ lượng lớn khoáng sản quý hiếm, đặc biệt trữ lượng đất hiếm đứng thứ 6 thế giới (3,5 triệu tấn), nhưng chưa được khai thác hiệu quả. Tuy nhiên, triển vọng đang mở ra khi Việt Nam và Úc thúc đẩy hợp tác “khai thác khoáng sản thiết yếu”. Đây là yếu tố đầu tiên trong “ba mảng hợp tác” song phương, theo giải thích của tiến sĩ Nguyễn Thế Phương :
“Khai thác khoáng sản thiết yếu sẽ tập trung vào ba điểm. Trước tiên là đầu tư và chuyển giao công nghệ chế biến sâu. Hai nước sẽ cố gắng là đẩy mạnh thu hút các tập đoàn lớn của Úc trong lĩnh vực tài nguyên khoáng sản đầu tư vào Việt Nam trong các dự án thăm dò, khai thác, đặc biệt là chế biến sâu các khoáng sản tại Việt Nam thay vì Việt Nam chỉ xuất khẩu quặng thô.
Thứ hai, Úc sẽ hỗ trợ Việt Nam xây dựng toàn bộ quá trình áp dụng các tiêu chuẩn mới và quá trình truy xuất nguồn gốc. Tại vì như chúng ta biết, lĩnh vực khai thác, cũng như xuất khẩu các loại khoáng sản, đặc biệt là đất hiếm trên thế giới, hiện giờ bây giờ là lĩnh vực cạnh tranh mà muốn tham gia vào toàn bộ quy trình này ở mức độ toàn cầu thì phải có tiêu chuẩn kỹ thuật, truy xuất nguồn gốc minh bạch. Do đó, Úc sẽ là nước hỗ trợ Việt Nam trong việc xây dựng toàn bộ hệ thống quy chuẩn này, giúp cho Việt Nam có đủ điều kiện tham gia vào chuỗi công ứng công nghệ cao do Mỹ dẫn dắt.
Đọc thêmBang giao Úc-Việt: 63 năm nhìn lại
Điểm thứ ba là cả hai bên sẽ thiết lập cơ chế đối thoại cấp bộ trưởng về năng lượng khoáng sản. Cơ chế này sẽ triển khai định kỳ. Thông qua cơ chế này, hai bên mong muốn là sẽ gỡ bỏ các rào cản chính sách, hỗ trợ doanh nghiệp hai bên kết nối và xây dựng chuỗi cung ứng khoáng sản tự chủ và minh bạch. Đây là điểm mà chưa nước nào có, mới chỉ có Úc và Việt Nam có. Đây là những vấn đề liên quan đến khoáng sản thiết yếu”.
Đây là điểm được nêu trong “Chiến lược địa chất, khoáng sản và công nghiệp khai khoáng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045” được công bố ngày 01/04/2023, với những nhiệm vụ trọng tâm : Đẩy mạnh điều tra, thăm dò, đánh giá, xác định trữ lượng và tài nguyên đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội ; cập nhật, đồng bộ quy hoạch và cơ sở dữ liệu ; tăng cường quản lý tài nguyên, cấp phép và kiểm soát hoạt động khai thác, bảo đảm khai thác tiết kiệm, hiệu quả ; phát triển công nghệ chế biến sâu, nâng cao giá trị khoáng sản, ứng dụng thiết bị hiện đại, tái chế, giảm chất thải, bảo vệ môi trường ; ưu tiên khoáng sản chiến lược ; bảo đảm nguồn nguyên liệu trong nước, an ninh quốc gia và phát triển bền vững. (2)
Công nghệ bán dẫn và công nghệ mới nổi
Mảng hợp tác thứ hai sẽ là công nghệ bán dẫn và công nghệ mới nổi. Ngày 30/04/2026, Việt Nam công bố Danh mục công nghệ chiến lược, gồm 10 nhóm, trong đó có công nghệ số, năng lượng và vật liệu tiên tiến, chip bán dẫn… và hàng loạt sản phẩm công nghệ chiến lược trọng điểm như : AI, chip bán dẫn, hydrogen xanh, công nghệ lượng tử, vệ tinh quỹ đạo thấp nhằm thúc đẩy tự chủ công nghệ. (3)
Việt Nam cũng đề ra chiến lược phát triển công nghiệp bán dẫn đến năm 2030, tầm nhìn 2050, theo đó mục tiêu đến 2050 có 300 công ty thiết kế, 3 nhà máy chế tạo chip, 20 nhà máy đóng gói và kiểm thử (OSAT), đào tạo hơn 100.000 kỹ sư/cử nhân ngành bán dẫn. (4) Lộ trình được chia thành ba giai đoạn : Giai đoạn 1 (2024-2030) : Hình thành nền tảng, thu hút FDI, phát triển nhân lực ; Giai đoạn 2 (2030-2040) : Trở thành trung tâm công nghiệp bán dẫn - điện tử toàn cầu ; Giai đoạn 3 (2040-2050) : Là nước đi đầu, làm chủ R&D trong bán dẫn. Úc sẽ hỗ trợ Việt Nam như thế nào trong quá trình này ? Tiến sĩ Nguyễn Thế Phương giải thích :
“Úc cũng là một quốc gia đóng vai trò tác nhân kết nối các hệ sinh thái công nghệ của cả hai bên. Điểm này liên quan đến những yếu tố, ví dụ đào tạo nguồn nhân lực, thúc đẩy Trung tâm Công nghệ Chiến lược Việt-Úc. Đây là giai đoạn hai và sẽ tập trung vào một số loại công nghệ, ví dụ như là trí tuệ nhân tạo, điện toán lượng tử và mạng viễn thông thế hệ mới. Chúng ta biết là Úc là quốc gia nói tiếng Anh và có hệ thống các trường đại học đào tạo đứng top đầu thế giới, gần Việt Nam. Cho nên Việt Nam mong muốn trở thành một hub đào tạo để Việt Nam có thể tiếp cận các loại công nghệ mới.
Đọc thêmÚc và Việt Nam nâng cấp quan hệ lên đối tác chiến lược toàn diện
Điểm thứ ba là xây dựng chuỗi cung ứng chip. Việt Nam hiện tại đang đóng góp vai trò là trung tâm đóng gói kiểm thử và sản xuất cho hệ sinh thái chip. Trong khi Úc có thể bảo đảm nguồn nguyên liệu đầu vào tại vì Úc có các loại khoáng sản rất quan trọng : silicon, lithium, kim loại hiếm và Úc có nền tảng thiết kế chip cũng tương đối ổn. Đó là về công nghệ bán dẫn, công nghệ mới nổi”.
Trung tâm Công nghệ Chiến lược Việt-Úc (AVSTC) được thành lập ngày 11/06/2025 nhằm thúc đẩy hợp tác trong các công nghệ mới và trọng yếu, tạo điều kiện đổi mới sáng tạo, tăng cường khả năng chống chịu trước các mối đe dọa mạng trên toàn cầu. Giai đoạn II của Trung tâm Công nghệ Chiến lược Úc-Việt đã được công bố tháng 08/2026.
Phát triển năng lượng sạch và chuyển giao công nghệ sạch
Cả Việt Nam và Úc đều cam kết mạnh mẽ “đạt được phát thải ròng bằng không” vào năm 2050. Theo trang web của chính phủ Úc liên quan đến Viện trợ phát triển tại Việt Nam, chính quyền Canberra cam kết “hợp tác với Việt Nam để hỗ trợ quá trình chuyển đổi năng lượng”. Úc sẽ hỗ trợ chuyển giao công nghệ sạch, theo giải thích của tiến sĩ Nguyễn Thế Phương.
“Quan hệ song phương thời gian tới sẽ ảnh hưởng vào những điểm như sau : Thứ nhất là phát triển năng lượng tái tạo và hydrogen xanh. Úc có thế mạnh vượt trội về công nghệ điện gió ngoài khơi. Việt Nam đang phát triển về offshore wind - điện gió ngoài khơi, điện mặt trời và hydrogen xanh. Ở mảng này, hai bên sẽ tăng cường hợp tác chuyển giao công nghệ và xây dựng các sàn giao dịch và các dự án sản xuất hydro ammonia tại Việt Nam. Điểm này được nhắc tới trong chuyến thăm của chủ tịch nước Việt Nam Tô Lâm.
Thứ hai, ngoài năng lực thì cần phải có tài chính. Úc sẽ là nước giúp Việt Nam phát triển “tài chính xanh” và hỗ trợ chuyển giao năng lượng. Úc thông qua các gói viện trợ phát triển cũng như là các quỹ đầu tư tư nhân để giúp Việt Nam hiện đại hóa hạ tầng lưới điện, tăng khả năng hấp thụ nguồn năng lượng tái tạo. Bởi vì ngoài xây dựng nguồn năng lượng phát điện thì đấu nối là điều rất là quan trọng. Nếu không có đấu nối thì cũng không phát huy tối đa được các dự án điện xanh. Trong vòng 5, 6 năm trở lại đây, Việt Nam gặp rất nhiều khó khăn trong việc đấu nối. Úc sẽ giúp Việt Nam về mặt tài chính, các quỹ để phát triển lĩnh vực này.
Đọc thêmViệt Nam phải nhập khẩu than từ Úc để đáp ứng nhu cầu năng lượng
Phần thứ ba là thương mại năng lượng. Trong ngắn và trung hạn, Úc sẽ bảo đảm cung cấp nguồn khí hỏa lỏng tự nhiên và than sạch ổn định cho Việt Nam, giúp Việt Nam bảo đảm an ninh năng lượng trong quá trình chuyển đổi dần sang nguồn năng lượng xanh. Đây cũng là một điểm khá là quan trọng. Sau xung đột ở eo biển Hormuz, có thể thấy rằng bảo đảm được nguồn cung năng lượng cho nền kinh tế vận hành là một chuyện rất quan trọng và nó không chỉ liên quan tới kinh tế mà còn liên quan tới an sinh xã hội.
Và một trong những điểm mà Việt Nam ưu tiên trong thời điểm hiện tại là bảo đảm quá trình nhập khẩu năng lượng, cũng như là nguồn cung năng lượng được ổn định. Nền kinh tế với mục tiêu 10%, để đạt được mục tiêu đó thì đảm bảo năng lượng sẽ là một trong cái chiến lược ưu tiên cốt lõi. Và Úc sẽ giúp Việt Nam trong việc bảo đảm, ví dụ về than sạch, khí hóa lỏng. Bởi vì bản thân Úc cũng có trữ lượng lớn các loại khoáng sản này”.
Tiến sĩ Nguyễn Thế Phương cho rằng với mối quan hệ song phương phát triển tốt đẹp như hiện nay, Việt Nam kỳ vọng rằng Úc sẽ là một đối tác cung cấp những khoáng sản, năng lượng, công nghệ, kiến thức trong việc phát triển lĩnh vực khoa học công nghệ và năng lượng. - Theo các số liệu chính thức, chỉ trong 8 tháng đầu năm nay (2026), Việt Nam đã tiếp đón gần 16 triệu du khách quốc tế, tăng 14,4 % so với cùng kỳ năm ngoái. Ngành du lịch Việt Nam còn có tham vọng sẽ tiếp đón tổng cộng 25 triệu du khách trong năm nay.
Thế nhưng, khi trao đổi với RFI Việt ngữ, một số doanh nghiệp tham gia Hội chợ du lịch quốc tế IFTM Top Resa tại Paris ( 15-17/09/2026 ) đều than phiền là số khách của họ, ít ra là từ châu Âu, vẫn chưa tăng trở lại như trước đây, phần lớn là do tác động của chiến tranh Trung Đông.
Trả lời RFI Việt ngữ tại hội chợ IFTM Top Resa, cô Đào Thị Thùy Linh, giám đốc công ty Asia Viva Travel, được thành lập năm 2019, chủ yếu phục cho du khách châu Âu ( Pháp,Ý, Tây Ban Nha, Bắc Âu…) , cho biết:
“Con số của Nhà nước là con số ghi nhận khi nhập cảnh và xuất cảnh. Thực tế con số tại các doanh nghiệp thì có một sự sụt giảm, như tại công ty Asia Viva Travel. Chúng tôi có ghi nhận sự sụt giảm nghiêm trọng vào khoảng tháng 2 và tháng 3, thậm chí là tháng 5, tháng 6. Tuy nhiên, từ cuối tháng 6 đến tháng 9/2026, chúng tôi đã ghi nhận sự sôi động trở lại của những giao dịch từ những đơn vị đã chốt đơn cho cuối năm nay và năm sau.
Thẳng thắn mà nói thì vẫn còn những sụt giảm và vắng vẻ hơn. Khách có xu hướng sẽ chốt sát nút hơn so với trước đây. Trước đây họ có thể chốt từ 3 đến 6 tháng trước, nhưng bây giờ họ có thể chốt tháng trước, tháng sau. Thời gian họ quyết định sẽ sát hơn, tùy thuộc vào chuyến bay, rồi sẽ nhìn vào tình hình quốc tế xem có ổn định chưa thì họ mới quyết định có chốt đi hay không.
Với khoảng 30, 40 nhân sự khối văn phòng, với các anh chị em hướng dẫn viên, hay những bà con làm ở tuyến điểm, hoặc là chèo đò, lái xe, tôi nghĩ rằng đó là một sự thách thức đối với cả tất cả chúng tôi. Bởi vì tính chất và số lượng tour giảm, thậm chí khách cũng chọn lựa những phương thức tiết kiệm hơn, hoặc là họ dùng AI để có thể tự liên hệ, dẫn đến sụt giảm về việc làm, sụt giảm về kinh doanh. Có thể họ hỏi rất là nhiều, nhưng tỷ lệ chốt đơn lại giảm. Đó là một trong những thách thức để chúng tôi duy trì và vận hành doanh nghiệp của chúng tôi.
Về phần mình, ông Edouard Georges, chủ tịch công ty lữ hành Phoenix Voyages, giải thích:
“Chiến tranh Iran đã tác động rõ rệt đến lượng khách đến Việt Nam: Các hãng hàng không vùng Vịnh đã tạm ngưng hoặc cắt giảm chuyến bay, dẫn đến việc lượng du khách châu Âu đến Việt Nam sụt giảm đáng kể. Mọi người cảm thấy lo lắng, bất an khi phải quá cảnh tại Doha, Dubai hay các thành phố khác ở vùng Vịnh để nối chuyến đến Việt Nam. Tình trạng sụt giảm lượng khách này đang ảnh hưởng đến toàn khu vực, bao gồm cả Việt Nam, Cam Bốt và Thái Lan. Chúng tôi đã phải gánh chịu hậu quả từ tháng Hai hoặc tháng Ba. Đến nay, tình hình vẫn chưa thực sự khả quan hơn.Tôi nghĩ tình trạng này sẽ còn kéo dài thêm một thời gian nữa, mặc dù lịch bay đang dần ổn định và chúng tôi kỳ vọng sẽ sớm thấy lại tần suất hai hoặc ba chuyến mỗi ngày, thay vì chỉ một chuyến như hiện nay, đến Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh chẳng hạn.
Có hai yếu tố tác động ở đây, gồm bối cảnh quốc tế, nhưng cũng cần kể đến yếu tố giá cả. Giá vé máy bay đã tăng mạnh, dù là các chuyến bay thẳng của Vietnam Airlines, hay của các hãng như Singapore Airlines, Thai Airways hoặc Cathay Pacific. Giá vé rất cao, gần như tăng gấp đôi và tất nhiên, trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế, du khách không còn đủ khả năng chi trả cho những chuyến đi xa như vậy. Thay vào đó, họ chỉ đi du lịch trong phạm vi châu Âu hoặc khu vực Địa Trung Hải, như Maroc, Ai Cập hay Hy Lạp, những điểm đến vẫn phù hợp với ngân sách du lịch của họ, dù giá cả tại đó cũng đã tăng lên.”
Tuy nhiên, cô Đào Thị Thùy Linh, giám đốc công ty Asia Viva Travel, tỏ vẻ tin tưởng Việt Nam vẫn là điểm đến hấp dẫn đối với khách quốc tế:
“Với những chính sách và với những nỗ lực từ chính phủ, từ những doanh nghiệp Việt Nam, hay với những sự kiện để quảng bá và phát triển hơn du lịch của Việt Nam đối với các đối tác trên toàn cầu có mặt tại Top Resa 2026, tôi rất tin tưởng. Qua trao đổi, làm việc và thậm chí là trao đổi rất sâu với một số đối tác thân thiết, họ cũng chia sẻ rằng Việt Nam là một điểm đến mới nổi và rất đa dạng về văn hóa, về ẩm thực, về mọi mặt, với một mức chi phí rất là hợp lý, trong bối cảnh toàn cầu nói chung gặp khó khăn như thế này.
Ở Việt Nam bây giờ chúng tôi rất tự hào, vì sản phẩm rất đa dạng ở góc độ nghỉ dưỡng, du lịch y tế, thiền, yoga, trekking hay adventure, khám phá, mọi thứ đều có thể gói gọn ở hai chữ “Việt Nam”. Tôi tin đó là một cơ hội rất lớn và rộng mở cho tương lai của chúng tôi.”
Tuy nhiên, ông Edouard Geroges, giám đốc công ty Phoenix Voyages lưu ý:
"Tôi cho rằng Việt Nam mắc phải một sai lầm cơ bản, đó là mong muốn đón hàng triệu lượt khách du lịch. Tốt hơn hết là nên chọn lọc kỹ lưỡng hơn và đón ít khách hơn, những khách sẵn sàng chi tiêu nhiều hơn và lưu trú lâu hơn. Chúng ta cần tập trung thu hút những du khách chất lượng cao với thời gian lưu trú dài ngày, thay vì chỉ chạy theo các con số thống kê, tự hào về việc đón 25, 26 hay 30 triệu lượt khách. Xét cho cùng, những con số đó không mang nhiều ý nghĩa. Đó là sự hiểu lầm lớn về du lịch: số lượng đơn thuần không phải là yếu tố quan trọng nhất. Điều thực sự quan trọng là thời gian lưu trú và mức chi tiêu của du khách."
Cho dù số khách quốc tế đến Việt Nam đang dần tăng trở lại, theo ông Edouard Georges, ngành du lịch Việt Nam cần tạo ra nhiều sản phẩm hơn để giữ chân du khách lâu hơn:
“Mọi thứ đang dần thay đổi, nhưng chúng ta cần củng cố các sản phẩm và dịch vụ, cải thiện công tác truyền thông và, quan trọng nhất, là quảng bá du lịch Việt Nam theo ba vùng riêng biệt. Chúng ta cần quảng bá miền Bắc vào đúng mùa, làm nổi bật các cơ hội du lịch sinh thái tại đây. Chúng ta cũng cần quảng bá miền Trung, với những bãi biển tuyệt đẹp, vào thời điểm thích hợp, và cả miền Nam, có thể tập trung vào Đồng bằng sông Cửu Long cùng các hành trình đường sông, thậm chí mở rộng sang Cam Bốt. Thông qua quan hệ hợp tác với các nước láng giềng, chẳng hạn, miền Bắc có thể kết hợp rất tốt với Lào trong cùng một mùa du lịch.
Chúng ta cần tạo ra nhiều sản phẩm hơn nữa để khuyến khích du khách quay trở lại Việt Nam. Bạn có thể dành 15 ngày ở miền Bắc để thăm các cộng đồng dân tộc thiểu số, một trải nghiệm vô cùng đặc biệt, hay ngắm nhìn Vịnh Hạ Long, phải ở lại ba đêm để khám phá trọn vẹn vẻ đẹp phong phú của khu vực này, thong thả tản bộ, đọc sách và chiêm ngưỡng cảnh quan. Hiện nay, du khách thường di chuyển qua Việt Nam quá nhanh. Chúng ta cần chuyển hướng sang mô hình du lịch "chậm", khuyến khích khách hàng và du khách lưu trú lâu hơn cũng như quay trở lại một, hai, ba, thậm chí bốn lần để thực sự củng cố lượng khách du lịch.”
Vấn đề là ngành du lịch Việt Nam lại đang đối mặt với tình trạng thiếu hụt trầm trọng cả về số lượng lẫn chất lượng, đặc biệt trong các mùa cao điểm. Theo kết quả khảo sát của Hoteljob.vn (nền tảng tuyển dụng nhân sự hàng đầu trong ngành khách sạn và du lịch Việt Nam), gần 90% doanh nghiệp du lịch cho biết đang có nhu cầu tuyển dụng hoặc thiếu nhân sự. Thường xuyên thiếu nhân lực là trong lĩnh vực lưu trú, như nhân viên lễ tân, nhân viên buồng phòng, đầu bếp và nhân viên phục vụ trực tiếp.
Cô Đào Thị Thùy Linh, giám đốc công ty Asia Viva Travel ghi nhận:
“Sau Covid xong thì có rất nhiều người đổi nghề. Có thể họ đã làm quá lâu trong mảng du lịch nên họ muốn trải nghiệm sang một cái mảng mới. Anh em vẫn nói vui trong nghề rằng du lịch là một công việc "tuy vất vả mà được cái nghèo"! Nói vui thế thôi nhưng tôi nghĩ đó là một công việc thú vị.
Chỉ có là khi mà lượng được đẩy lên quá cao, khi mà con số của năm 2025 là khoảng 21 triệu và chỉ tiêu đề ra cho năm 2026 là 25 triệu, thì nhân sự sẽ phải tăng lên để có thể đủ đáp ứng được những nhu cầu mới, khách hàng mới, những đối tác mới. Theo tôi, đó cũng là một trong các thách thức Việt Nam sẽ phải đối diện và phải cân bằng trong thời gian tới.
Sự thành công của một tour được quyết định rất nhiều bởi năng lực của guide ( hướng dẫn viên ). Theo tôi đánh giá, với nhu cầu của khách hàng như thế, ở Việt Nam đang bị thiếu một chút về những guide ngôn ngữ hiếm, như tiếng Pháp, tiếng Ý, tiếng Tây Ban Nha, thậm chí tiếng Đức… Đó là một trong những điểm mà tôi thấy sẽ cần một sự phối hợp liên ngành từ chính phủ, từ các trường hay từ bộ Giáo Dục để gia tăng đào tạo, hoặc là có thể áp dụng công nghệ nhiều hơn để tăng cường khả năng phục vụ khách hàng đến với Việt Nam.”
Về vấn đề này, ông Edouard Georges, chủ tịch công ty lữ hành Phoenix Voyages nêu ý kiến:
“Việt Nam vẫn sở hữu nguồn nhân lực dồi dào với dân số hơn 100 triệu người. Tuy nhiên, các công việc trong ngành du lịch và khách sạn không thu hút nhiều người, đó cũng là một xu hướng chung trên toàn cầu. Những công việc này thường có mức lương thấp và đòi hỏi thời gian làm việc dài, vì vậy giới trẻ thường hướng đến các lĩnh vực công nghệ cao hoặc công nghệ thông tin, với mong muốn làm ít hơn mà thu nhập lại cao hơn. Ngoài ra còn có tình trạng thiếu hụt nhân sự chất lượng cao, cụ thể là những hướng dẫn viên xuất sắc, vừa giỏi ngoại ngữ vừa có kiến thức sâu rộng về văn hóa và lịch sử đất nước.
Tôi cho rằng vai trò của hướng dẫn viên đang trải qua một cuộc chuyển đổi toàn diện. Nhờ có công nghệ, như mạng wifi phủ sóng khắp nơi, Google và trí tuệ nhân tạo, khách hàng có thể dễ dàng tiếp cận thông tin. Du khách hoàn toàn có thể tự mình tìm hiểu các chi tiết về mốc thời gian, các triều đại và những sự kiện lịch sử khác. Hệ quả là vai trò của hướng dẫn viên cần chuyển hướng sang việc hỗ trợ du lịch và cung cấp dịch vụ cá nhân hóa, thay vì duy trì phong cách truyền thống mang tính hàn lâm như chỉ liệt kê các triều đại Việt Nam hay ngày tháng của các trận đánh và cuộc chiến.
Chúng ta cần suy nghĩ lại về cách đào tạo hướng dẫn viên cũng như cách tiếp cận nghề nghiệp này. Chúng tôi đang phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chức năng để xây dựng những chương trình đào tạo mới, phù hợp với những thay đổi này, nhằm thu hút một thế hệ hướng dẫn viên mới. Các hướng dẫn viên kỳ cựu nói tiếng Pháp đang dần rời bỏ nghề. Tôi đã làm trong ngành 25 năm và biết rõ tất cả họ. Họ có bề dày kinh nghiệm, nhưng giờ đây phần lớn họ đã, hoặc sắp nghỉ hưu. Chúng ta cần chuyển giao thế hệ và đổi mới nghề này một chút.
Tuy nhiên, đây cũng là một vấn đề nan giải, vì hiện nay ít người còn hứng thú học các ngoại ngữ như tiếng Pháp, tiếng Tây Ban Nha hay tiếng Đức. Trước đây, chúng ta có những người Việt từng làm việc tại Cuba hay Đông Đức và nói tiếng Đức hoặc tiếng Tây Ban Nha rất giỏi. Giờ đây, những thế hệ đó đang dần nghỉ hưu. Một số người vẫn làm việc cầm chừng, nhưng không còn hoạt động tích cực trong nghề nữa. Vì vậy, chúng ta cần tìm kiếm những người trẻ có đam mê học ngoại ngữ.
Tuy nhiên, lại nảy sinh vấn đề về trí tuệ nhân tạo: Chỉ cần nói tiếng Việt vào micro là có thể dịch ngay sang tiếng Pháp hoặc tiếng Tây Ban Nha. Liệu điều này sẽ trở thành chuẩn mực hay chỉ là một xu hướng nhất thời? Dầu sao sự tương tác giữa người với người chắc chắn vẫn là một phần quan trọng khi đến thăm một quốc gia.”
Über Tạp chí Việt Nam
Những vấn đề, sự kiện đang được dư luận quan tâm ở Việt Nam
Podcast-Website