Tạp chí Việt Nam

Neueste Episode
24 Episoden
- Pandora, thương hiệu trang sức Đan Mạch, chọn Việt Nam làm cứ điểm chế tác trang sức cao cấp lớn nhất thế giới. Nhà máy trị giá 150 triệu đô la, khánh thành ngày 01/10/2026, vận hành hoàn toàn bằng năng lượng tái tạo và sử dụng 100% vàng, bạc tái chế. Sự kiện diễn ra nhân dịp Việt Nam và Đan Mạch kỷ niệm 55 năm thiết lập quan hệ ngoại giao. Trong chuyến thăm Đan Mạch (19-21/10) của tổng bí thư-chủ tịch nước Tô Lâm, hai nước nâng cấp quan hệ lên Đối tác Chiến lược Toàn diện.
Phát biểu tại lễ khánh thành nhà máy Pandora ngày 01/10, đại sứ Đan Mạch tại Việt Nam Lina Gandløse Hansen nhấn mạnh dự án góp phần thúc đẩy triển khai hiệu quả khuôn khổ Đối tác Chiến lược xanh, được hai nước thiết lập năm 2023, trong đó ưu tiên hợp tác chuyển đổi năng lượng, ứng phó với biến đổi khí hậu và phát triển bền vững, thông qua các hoạt động đầu tư, sản xuất và triển khai nguồn nhân lực.
Phát triển nguồn nhân lực tay nghề cao
Nhà máy Pandora Production Vietnam được xây dựng trên diện tích 7,5 ha tại Khu công nghiệp Việt Nam - Singapore III (VSIP III), thành phố Hồ Chí Minh. Đây là cơ sở sản xuất đầu tiên của Pandora ngoài Thái Lan và là nhà máy thứ tư của tập đoàn trên toàn cầu. Cơ sở sản xuất tại Việt Nam nằm trong chiến lược tăng cường sự linh hoạt và củng cố khả năng chống chịu của chuỗi cung ứng để đáp ứng nhu cầu thị trường, theo giải thích của bà Berta de Pablos-Barbier, tổng giám đốc điều hành Pandora :
« Tại Việt Nam, chúng tôi thực sự có những lợi thế tốt nhất từ cả hai phía. Chúng tôi có thể hoạt động tại một quốc gia sở hữu cơ sở hạ tầng tuyệt vời, từ thị trường và môi trường kinh doanh thuận lợi đến sự ổn định cao. Đặc biệt, với tư cách là thương hiệu dẫn đầu toàn cầu trong lĩnh vực chế tác trang sức, chúng tôi nhận thấy Việt Nam có truyền thống chế tác trang sức lâu đời nên có thể tiếp cận đội ngũ nghệ nhân lành nghề và nguồn nhân tài dồi dào tại đây.
Chúng tôi xây dựng cơ sở này không phải cho một quý tới, mà là cho cả thập kỷ tiếp theo của Pandora. Mục tiêu cốt lõi là bảo đảm tầm nhìn dài hạn, giúp Pandora không bị ảnh hưởng bởi những biến động ngắn hạn của thị trường ».
Xét về số lượng sản phẩm bán ra, Pandora là thương hiệu kiêm nhà sản xuất trang sức lớn nhất thế giới, nổi tiếng với các dòng trang sức có giá cả phải chăng dành cho thị trường đại chúng. Theo báo cáo thường niên năm 2025 của Pandora, được AP trích dẫn, hãng đã bán được 112 triệu sản phẩm trang sức trong năm này, tương đương với hơn ba sản phẩm được bán ra mỗi giây.
Nhà máy mới hiện đại bậc nhất đặt tại thành phố Hồ Chí Minh, là cơ sở chế tác trang sức cao cấp lớn nhất thế giới, sẽ giúp nâng tổng năng lực sản xuất của hãng thêm khoảng 50%. Khi vận hành hoàn chỉnh, nhà máy dự kiến sử dụng khoảng 7.000 nhân viên tại Việt Nam.
« Chúng tôi dự kiến đạt sản lượng lên tới 60 triệu sản phẩm mỗi năm khi vận hành hết công suất. Tất nhiên, con số này còn tùy thuộc vào độ phức tạp trong quá trình chế tác từng món đồ. Như vậy, tính trung bình, chúng tôi sẽ đạt khoảng 5 triệu sản phẩm mỗi tháng.
Cơ sở tại Việt Nam là một mắt xích trong mạng lưới chế tác toàn cầu của Pandora, cho phép chúng tôi linh hoạt sản xuất mọi bộ sưu tập và dòng sản phẩm, sử dụng đa dạng vật liệu và kỹ thuật chế tác. Chúng tôi tiếp tục định hướng sản xuất bền vững, đồng thời từng bước gia tăng năng lực sản xuất tại Việt Nam để nắm bắt những cơ hội tăng trưởng to lớn mà Pandora đang có ».
Sản xuất bền vững : Năng lượng tái tạo và 100% vàng, bạc tái chế
Công ty Cổ phần Giải pháp Năng lượng Thông minh Việt Nam - Singapore (VSSES) là nhà cung cấp nguồn điện mặt trời cho toàn bộ hoạt động chế tác của nhà máy Pandora. Ông Mads Twomey-Madsen, giám đốc phụ trách Phát triển Bền vững của Pandora, nhấn mạnh toàn bộ chuỗi cung ứng được vận hành bằng năng lượng sạch, kể cả các công đoạn tiêu tốn nhiều năng lượng như nung nóng và tinh luyện kim loại để bỏ tạp chất.
« Chúng tôi sử dụng một số vật liệu khác trong các sản phẩm trang sức Pandora. Dù tỷ lệ sử dụng thấp hơn nhiều so với vàng và bạc, nhưng chúng vẫn có. Vì vậy, chúng tôi sẽ tiếp tục chuyển đổi sang các nguồn vật liệu tái chế. Việc sắp xếp lại chuỗi cung ứng và các quy trình liên quan mỗi loại vật liệu đều cần thời gian, để tiến gần đến mục tiêu mọi vật liệu làm nên sản phẩm đều tuân thủ các nguyên tắc kinh tế tuần hoàn ».
Nhìn chung, theo bà Berta de Pablos-Barbier, tổng giám đốc điều hành Pandora, sản xuất bền vững là điểm nổi bật của của Pandora, trong đó có nhà máy ở Việt Nam :
« Phát triển bền vững là trọng tâm trong mọi hoạt động của Pandora và chúng tôi tin rằng hai mục tiêu này không hề đối lập nhau. Hoàn toàn có thể đạt được tăng trưởng kinh doanh mạnh mẽ mà vẫn cắt giảm lượng phát thải carbon, như kết quả mà doanh nghiệp đã chứng minh trong năm qua. Ngay từ khi bắt đầu hoạt động tại Việt Nam, Pandora đã đưa ra mục tiêu phát triển bền vững vào chiến lước sản xuất.
Dù đòi hỏi sự nỗ lực rất lớn từ tất cả các bộ phận, chúng tôi vẫn bảo đảm chỉ sử dụng năng lượng tái tạo. Cơ sở sản xuất của Pandora tại Việt Nam đã đạt chứng nhận LEED Gold, một trong những tiêu chuẩn cao nhất dành cho các công trình bền vững, và chúng tôi sẽ tiếp tục duy trì hoạt động sản xuất dựa trên nguồn bạc và vàng tái chế ».
Từ tháng 08/2024, Pandora chuyển sang sử dụng 100% vàng và bạc tái chế trong các sản phẩm trang sức mới. Nguồn nguyên liệu được cung cấp dưới dạng kim loại tinh chế dạng hạt nhỏ từ các đơn vị tái chế tại châu Âu và châu Á, thu hồi từ nhiều sản phẩm khác nhau. Trả lời chương trình tin tức tài chính và kinh doanh Squawk Box Asia của đài truyền hình CNBC ngày 02/10, bà Berta de Pablos-Barbier, tổng giám đốc điều hành Pandora, giải thích :
« Hiện tại, Pandora chỉ tìm đến các nguồn cung cấp kim loại tái chế có chứng nhận. Nguồn nguyên liệu có thể đến từ nhiều ngành công nghiệp, như từ các chất bán dẫn hoặc bất cứ đồ gì khác. Pandora cũng thu hồi các sản phẩm tại các cửa hàng của hãng. Sau khi thu gom, kim loại được nấu chảy và tái chế, đưa trở lại chuỗi sản xuất, mang lại cho chúng vòng đời sử dụng mới ».
Theo ông Saleem H. Ali, đứng đầu chương trình về khoáng sản thiết yếu và chuyển đổi năng lượng bao trùm tại Đại học Liên Hiệp Quốc (United Nations University, tại Tokyo, Nhật Bản), cam kết sử dụng vàng và bạc tái chế của Pandora là một bước đi mang ý nghĩa quan trọng.
« Nếu họ cam kết thực hiện điều đó thì đây là một bước tiến lớn, bởi vì vàng là vật liệu có khả năng tái chế rất tốt. Xét trên nhiều phương diện, vàng được xem là vật liệu lý tưởng cho nền kinh tế tuần hoàn. Nó không bị oxy hóa. Đó chính là lý do khiến nó có giá trị cao đến vậy. Chúng ta thậm chí vẫn còn lưu giữ được vàng từ thời Ai Cập cổ đại trong tình trạng rất tốt ».
Kim cương nhân tạo, thân thiện với môi trường
Pandora đẩy mạnh đầu tư vào kim cương tổng hợp trong phòng thí nghiệm nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng đối với các sản phẩm có giá thành phải chăng và bền vững. Bà Pablos-Barbier giải thích :
« Kim cương nuôi trong phòng thí nghiệm có vẻ ngoài giống hệt kim cương khai thác tự nhiên, không thể phân biệt bằng mắt thường. Người tiêu dùng trẻ ngày càng quan tâm đến môi trường, dù xu hướng này có thể khác nhau tùy theo khu vực địa lý. Thị trường cũng đang chuyển dịch rõ rệt : Lần đầu tiên vào năm ngoái, lượng kim cương nuôi cấy bán ra đã vượt kim cương khai thác tự nhiên. Pandora xem việc chuyển sang sử dụng kim cương tổng hợp là lựa chọn tất yếu trong chiến lược phát triển bền vững, nhất là Pandora lại là công ty hàng tiêu dùng đầu tiên trở thành công ty bền vững nhất trên thế giới ».
Ngoài chi phí thấp, kim cương nhân tạo còn giúp giảm khoảng 90% lượng khí thải carbon. Chiến lược này phù hợp với việc Pandora sử dụng vàng, bạc tái chế và năng lượng tái tạo tại nhà máy mới ở Việt Nam, qua đó thúc đẩy sản xuất thân thiện với môi trường.
« Pandora lựa chọn kim cương nuôi trong phòng thí nghiệm nhờ lượng khí phát thải CO2 thấp hơn 90% so với kim cương khai thác tự nhiên, phù hợp với các mục tiêu bền vững của hãng. Trong 5 năm qua, dù tăng trưởng gần 50%, Pandora vẫn giảm được 17% lượng phát thải carbon. Do đó, để duy trì xu hướng đó, chúng tôi chắc chắn tiếp tục sử dụng kim loại tái chế và kim cương nhân tạo ».
Tại lễ khánh thành nhà máy Pandora, phó chủ tịch UBND thành phố Hồ Chí Minh, Nguyễn Lộc Hà, kỳ vọng dự án sẽ lan toả kinh nghiệm về sản xuất xanh, kinh tế tuần hoàn và quản trị bền vững, góp phần củng cố vị trí của Việt Nâm trong chuỗi cung ứng toàn cầu. - Ngày 29/09/2026, Trung Quốc và Lào đã khánh thành một cơ sở quân sự chung tại sân bay nằm ở phía bắc thủ đô Viêng Chăn, theo thông báo từ chính phủ hai nước. Trung tâm Hỗ trợ và Huấn luyện Quân sự Chung nhằm mục đích bảo đảm "công tác huấn luyện và phát triển kỹ năng cho các phi công không quân Lào".
Như vậy là bên cạnh căn cứ hải quân Ream ở Cam Bốt, với việc khánh thành cơ sở quân sự này, Trung Quốc đang mở rộng sự hiện diện quân sự ở Lào, gia tăng áp lực đối với Việt Nam, trong những năm qua đã cố duy trì ảnh hưởng ở hai nước láng giềng và cũng là đồng minh truyền thống.
Vừa tái đắc cử tổng bí thư đảng Cộng Sản Việt Nam, ngày 05/02/2026, ông Tô Lâm đã đến thủ đô Viêng Chăn trong chuyến công du ngoại quốc đầu tiên sau Đại hội Đảng lần thứ 14. Nhưng đáng chú ý nhất là cuộc gặp giữa ông Tô Lâm với lãnh đạo hai đảng cầm quyền ở Cam Bốt và Lào tại Phnom Penh vào tháng 2. Theo báo chí Việt Nam, trong cuộc gặp thượng đỉnh này, lãnh đạo ba nước đã nhất trí "giữ vững nguyên tắc không cho phép bất kỳ cá nhân, tổ chức nào sử dụng lãnh thổ nước này gây phương hại đến an ninh mỗi nước".
Kể từ năm 1945, Việt Nam luôn coi Lào và Cam Bốt là một phần trong phạm vi ảnh hưởng của mình và vẫn lo ngại viễn cảnh hai nước láng giềng phía tây rơi vào tầm kiểm soát của Trung Quốc. Hiện nay, trong khuôn khổ chính sách quốc phòng "Bốn Không" (không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế), chiến lược hiện nay của Hà Nội là duy trì ảnh hưởng tại Lào và Cam Bốt mà không bị coi là thế lực bá quyền trong khu vực.
Trả lời RFI Việt ngữ ngày 13/08, tiến sĩ Vũ Xuân Khang, học giả thỉnh giảng về quan hệ quốc tế tại đại học Boston College, Hoa Kỳ, nhắc lại:
"Sau khi rút quân khỏi Lào và Cam Bốt lần lượt vào các năm 1988 và 1989, Việt Nam đã duy trì ảnh hưởng tại đây chủ yếu bằng phương tiện ngoại giao. Trước hết, nói về Lào thì Việt Nam vẫn duy trì mối quan hệ đặc biệt được đúc kết từ giai đoạn 1975, sau khi chính quyền Pathet Lào nắm quyền kiểm soát đất nước thay cho chính quyền Hoàng gia Lào. Quan trọng hơn cả là Hiệp định Hữu nghị và hợp tác Việt Nam-Lào được ký kết vào năm 1977. Về bản chất, đây là một hiệp định xác nhận hai nước là đồng minh quân sự, Việt Nam nói rõ an ninh của Lào cũng là an ninh của Việt Nam.
Trong giai đoạn Việt Nam chống lại Khmer Đỏ thì Lào cũng giúp Việt Nam truy quét lực lượng này ở biên giới Lào-Cam Bốt. Hiệp định này vẫn liên tục được lãnh đạo Đảng và Nhà nước hai bên gia hạn, kể cả sau khi chiến tranh Đông Dương lần ba kết thúc và năm sau sẽ là kỷ niệm 50 năm hiệp định này. Đây là một điểm đáng chú ý: Việt Nam tuyên bố không tham gia liên minh quân sự theo chính sách "Bốn Không", nhưng lại duy trì mối quan hệ đồng minh với Lào, để bảo vệ sườn phía tây của mình.
Đối với Cam Bốt, mặc dù nước này không có hiệp định hữu nghị và hợp tác với Việt Nam như Lào, Việt Nam tiếp tục duy trì ảnh hưởng của mình qua quan hệ thân cận với gia đình cựu thủ tướng Hun Sen, mà con trai là Hun Manet hiện đang làm thủ tướng. Dù sao thì Hun Sen là một trong các lãnh đạo Cam Bốt mà Việt Nam đã tin tưởng để thay thế Khmer Đỏ và vẫn là một chính trị gia không có tư tưởng chống Việt Nam cực đoan so với các thành phần khác trong chính trường Cam Bốt. Quan trọng nhất là Việt Nam mong muốn Cam Bốt giữ được ổn định chính trị dưới sự lãnh đạo của gia tộc Hun Sen để các thành phần chống Việt Nam cực đoan không có cơ hội nắm quyền lực.
Lào và Cam Bốt là hai nước Việt Nam đã mời tham dự duyệt binh nhân kỷ niệm quốc khánh 80 năm vào tháng 9 năm ngoái để khẳng định quan hệ gắn bó mật thiết giữa 3 nước Đông Dương."
Nhưng trong những năm qua, có vẻ như Lào và Cam Bốt ngày càng lọt vào vòng ảnh hưởng của Trung Quốc. Hiện nay Bắc Kinh đang kiểm soát hai nước láng giềng của đến mức độ nào? Nhà nghiên cứu Vũ Xuân Khang cho biết:
"Có thể thấy là từ năm 1991 trở đi, ảnh hưởng của Trung Quốc tại Lào và Cam Bốt trở nên mạnh mẽ hon. Đối với Lào, Trung Quốc bắt đầu có ảnh hưởng nhiều hơn kể từ sau những năm 2010, bắt đầu bằng việc Lào vay tiền của Trung Quốc trong dự án "Một vành đai, Một con đường" để xây dựng các công trình lớn, bao gồm đường sắt Côn Minh-Viêng Chăn trị giá 6 tỷ đô la, hay là các công trình thủy điện nhằm biến Lào trở thành "Bình điện của Đông Nam Á", trị giá gần 2 tỷ đô la.
Theo số liệu của Viện Lowy, Úc, khoản nợ mà Lào phải gánh đã tăng từ dưới 4 tỷ đô la vào năm 2010 lên thành 10 tỷ vào năm 2019, trong đó nợ Trung Quốc là hơn 5 tỷ. GDP của Lào chỉ vào khoảng 18 tỷ đô la. Những khoản đầu tư này chưa mang lại hiệu quả kinh tế cao. Lào đang ngày càng phụ thuộc nhiều hơn vào tín dụng của Trung Quốc để chi trả các khoản nợ và duy trì cơ sở hạ tầng tại nước này.
Đối với Cam Bốt, Trung Quốc từ năm 2012 đã là đối tác thương mại lớn nhất với tổng trị giá $18 tỷ đô la vào năm 2024. Cũng như đối với Lào, Trung Quốc đang giúp Cam Bốt phát triển cơ sở hạ tầng qua những dự án trọng điểm, như sân bay quốc tế Techo trị giá 2 tỷ đô la, đưòng cao tốc Phnom Penh-Sihanoukville trị giá 2 tỷ đô la và không thể không nhắc đến kênh đào Phù Nam, mà Việt Nam đã nhiều lần bày tỏ quan ngại, trị giá 1.7 tỷ đô la. Trung Quốc hiện đang đóng góp 1/3 tổng đầu tư nước ngoài FDI tại Cam Bốt.
Quan hệ Trung Quốc - Cam Bốt không dừng lại ở hợp tác kinh tế mà còn liên quan đến quân sự, quân cảng Ream đã được sửa chữa với tiền của Trung Quốc và hai nước đã diễn tập quân sự ở đây. Năm ngoái, khi xung đột biên giới giữa Thái Lan và Cam Bốt bùng phát, tờ New York Times của Mỹ ghi nhận Trung Quốc hỗ trợ Cam Bốt khoảng 700 quả tên lửa cũng như đạn pháo cho các hệ thống pháo bắn loạt, pháo tự hành, và súng phòng không. Quân trang của Trung Quốc được bảo quản ở quân cảng Ream trước khi được chuyển ra mặt trận ở biên giới phía bắc với Thái Lan."
Tầm ảnh hưởng của Trung Quốc ở hai nước L ào và Cam Bốt, đặc biệt là sự hiện diện quân sự của Trung Quốc ở Cam Bốt, dĩ nhiên là rất đáng lo ngại đối với Việt Nam, theo nhận định của nhà nghiên cứu Vũ Xuân Khang:
"Việt Nam không mong muốn hai nước Lào và Cam Bốt trở thành căn cứ quân sự của bất kỳ nước nào, do vị trí địa lý quan trọng của cả hai. Việc Trung Quốc mở rộng ảnh hưởng từ kinh tế, chính trị, đến quân sự ở hai nước láng giềng Đông Dương này là một mối lo đối với Hà Nội. Hiện nay Trung Quốc không có căn cứ quân sự ở Lào. Ở Cam Bốt thì sự hiện diện quân sự của Trung Quốc đang ngày càng lớn, nhưng vẫn còn hạn chế và kể từ năm 1991 Hiến pháp Cam Bốt cũng như Hiệp định Hòa bình Paris không cho phép một nước nào thiết lập căn cứ quân sự dài hạn ở đây.
Việt Nam có cơ sở để lo ngại về sự hiện diện của Trung Quốc, nhưng cũng cần phải nhấn mạnh là Cam Bốt hiện nay không giống Khmer Đỏ, do chính quyền của gia đình cựu thủ tướng Hun Sen không có các hành động khiêu khích, quấy phá, hay bài Việt Nam.
Trung Quốc cũng hiểu là họ phải tôn trọng quyền lợi an ninh chính đáng của Việt Nam ở Đông Dương, nếu không sẽ lại đẩy Việt Nam vào phe một cường quốc khác như trong giai đoạn Việt Nam liên minh với Liên Xô vào năm 1978 để chống lại ảnh hưởng của Trung Quốc tại Cam Bốt và chống lại Khmer Đỏ. Do đó Trung Quốc và Việt Nam sẽ tiếp tục duy trì quan hệ trao đổi, hợp tác, để tránh xảy ra xung đột hay hiểu lầm về quan hệ của mình với hai nước Lào và Cam Bốt."
Trong cuộc tranh giành ảnh hưởng với Trung Quốc tại Lào và Cam Bốt, hiện nay Việt Nam khai thác ngày càng nhiều thế mạnh về cơ sở hạ tầng kết nối với hai nước láng giềng. Cụ thể, từ năm 2001, cảng Vũng Áng ở tỉnh Hà Tĩnh, cảng lớn gần biên giới Việt-Lào nhất, đã được phát triển với ba bến tàu, trở thành một cửa ngõ hàng hải quan trọng của Lào. Hành lang Viêng Chăn - Vũng Áng chỉ dài 585km, tức là ngắn hơn khoảng 200 km so với tuyến đường qua ngỏ Bangkok đến cảng Laem Chabang của Thái Lan, giúp tiết kiệm thời gian vận chuyển và chi phí cho các doanh nghiệp Lào.
Về phần Cam Bốt, một phần ba thương mại quốc tế của nước này là qua ngỏ sông Mekong và phụ thuộc vào các cảng của Việt Nam, đặc biệt là Thành phố Hồ Chí Minh và Cái Mép - Thị Vải, để tiếp cận đường biển. Trong nỗ lực thoát khỏi sự phụ thuộc đó, Phnom Penh đã cho xây kênh đào Funan Techo do Trung Quốc tài trợ, một tuyến đường thủy nội địa dài 180 km lấy nước từ sông Mekong và nối Phnom Penh với cửa ngõ hàng hải tại cảng Kep. Đáp lại, Hà Nội đã xây dựng tuyến đường dẫn dài 4,9 km từ thị trấn Hà Tiên, nằm sát biên giới đất liền của Cam Bốt, đến cảng Hà Tiên, cách Kep khoảng 25 km.
Có quy mô lớn hơn nhiều đó là dự án cảng nước sâu lưỡng dụng Hòn Khoai, tại tỉnh Cà Mau. Khi đi vào hoạt động, Hòn Khoai có thể trở thành trung tâm trung chuyển lớn, thậm chí lấn át cả dự án Kênh đào Funan Techo, nhờ khả năng tiếp nhận các tàu có kích cỡ vượt xa năng lực của các cảng Cam Bốt. Không chỉ phục vụ thương mại, cơ sở hạ tầng lưỡng dụng tại Hòn Khoai còn có thể hỗ trợ và giám sát một trong những hành lang hàng hải quan trọng nhất Đông Nam Á. Cảng này có thể đóng vai trò đối trọng chiến lược trước khả năng mở rộng ảnh hưởng của hải quân Trung Quốc tại Vịnh Thái Lan, đặc biệt là từ căn cứ hải quân Ream của Cam Bốt.
Nói chung, trong cuộc tranh giành ảnh hưởng với Trung Quốc ở Lào và Cam Bốt, Việt Nam có những lợi thế nào và có những điểm bất lợi nào so với Bắc Kinh? Tiến sĩ Vũ Xuân Khang ghi nhận:
"Lợi thế của Việt Nam bao gồm vị trí địa lý và quan hệ chính trị rất gắn bó với hai nước Lào và Cam Bốt. Đối với Lào thì Việt Nam đã giúp Lào có được cảng biển ở Vũng Áng, đây là điều mà Trung Quốc không thể cho Lào được, do tỉnh Vân Nam cũng nằm sâu trong đất liền. Việt Nam cũng có quan hệ đồng chí thân thiết với lãnh đạo Đảng và Nhà nước Lào, chưa có một lãnh đạo Lào nào có lịch sử chống Việt Nam. Trái lại, trong giai đoạn 1978-1988, Lào đã ngả về phe Việt Nam để chống Trung Quốc.
Cam Bốt không giáp Trung Quốc nên sự hiện diện quân sự của Trung Quốc ở đây sẽ dễ bị phát hiện hơn trong tương lai và Trung Quốc sẽ khó can thiệp trực tiếp vào Cam Bốt. Trái lại, Việt Nam đang nỗ lực xây dựng cơ sở hạ tầng cảng biển ở phía Tây Nam để kiểm soát các hành động quân sự ở bờ biển Cam Bốt .
Bất lợi của Việt Nam vẫn là hạn chế về nguồn lực và tiềm lực kinh tế. Trung Quốc là một siêu cường về mọi mặt, nên họ có thể dễ dàng chạy đua vũ trang với Việt Nam nếu cần. Trung Quốc là đối tác kinh tế hàng đầu của cả Lào và Cam Bốt, có thể dễ dàng sử dụng nguồn lực kinh tế đó gây áp lực buộc chính quyền hai nước không được quá thân thiết với Việt Nam. Chưa kể Trung Quốc có thể trực diện đối đầu với Việt Nam ở biên giới Việt-Trung, nếu Việt Nam có bất kỳ ý định nào biến Lào và Cam Bốt thành căn cứ quân sự để chống Trung Quốc." - Việt Nam đã tái khởi động 2 dự án nhà máy điện hạt nhân đầu tiên, Ninh Thuận 1 và Ninh Thuận 2, đồng thời dự trù sau đó có thể sẽ tiến tới triển khai thêm các công nghệ lò phản ứng module nhỏ (SMR). Chưa biết các dự án đó sẽ được hoàn thành đúng kỳ hạn hay không, nhưng có nguy cơ Việt Nam sẽ thiếu hụt nhân lực để vận hành các nhà máy điện hạt nhân.
Việt Nam đã bắt đầu nghiên cứu phát triển điện hạt nhân từ đầu những năm 2000, nhằm đa dạng hóa nguồn cung và đáp ứng nhu cầu điện trong dài hạn. Sau quá trình khảo sát, tỉnh Ninh Thuận (cũ) đã được lựa chọn để xây dựng 2 nhà máy điện hạt nhân đầu tiên. Năm 2009, Quốc Hội thông qua chủ trương đầu tư dự án Điện hạt nhân Ninh Thuận. Tuy nhiên, đến năm 2016, dự án bị tạm dừng "do điều kiện chưa cho phép". Mãi đến năm 2024, Quốc Hội Việt Nam mới thông qua quyết định khởi động lại dự án Điện hạt nhân Ninh Thuận. Mục tiêu đề ra là đưa hai nhà máy này vào hoạt động vào năm 2035.
Trước mắt Việt Nam sẽ hợp tác với Nga để xây dựng Nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 1. Ngày 23/3/2026, Việt Nam và Nga đã ký Hiệp định liên Chính phủ về hợp tác xây dựng nhà máy điện hạt nhân trên lãnh thổ Việt Nam. Nhà máy sẽ được xây dựng bằng công nghệ của Nga và được tài trợ bằng khoản vay từ Nga. Theo hãng thông tấn TASS, tại Diễn đàn Kinh tế phương Đông EEF 2026 (01-04/09/2026), giám đốc điều hành Tập đoàn Năng lượng Hạt nhân Nhà nước Nga Rosatom, ông Alexey Likhachev, cho biết công tác thi công hợp đồng xây dựng và vận hành Nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 1 “đang được tiến hành khẩn trương.” Cụ thể, "công tác soạn thảo hợp đồng và đạt được các thỏa thuận ràng buộc pháp lý về tiến độ và cấu trúc dự án đang được tiến hành khẩn trương. Lò phản ứng thế hệ III+ VVER-1200 đã được chọn cho dự án". VVER*1200 là một lò phản ứng áp dụng công nghệ mới nhất của Nga, có công suất khoảng 1.200 Megawatt.
Còn về dự án Ninh Thuận 2, sau khi Nhật Bản rút, chính phủ Việt Nam hiện đang xem xét chọn một đối tác công nghệ "phù hợp". Hàn Quốc (với tập đoàn KEPCO) là một trong những đối tác tiềm năng đã bày tỏ mong muốn và sẵn sàng hợp tác toàn diện trong các khâu từ xây dựng nhà máy, vận hành, bảo đảm an toàn, cho đến đào tạo nhân lực.
Tuy nhiên, trả lời RFI Việt ngữ ngày 09/10/2026, giáo sư Phạm Duy Hiển, nguyên Viện trưởng Viện nghiên cứu hạt nhân Đà Lạt, cho rằng Việt Nam không thể nào hoàn tất được dự án nhà máy điện hạt nhân vào thời điểm 2035 như dự kiến, vì từ đây đến đó chỉ còn 10 năm:
"Kinh nghiệm từ những nước đã làm như Bangladesh, từ lúc động thổ, bắt đầu xây dựng trên công trường thì phải mất 7 năm sau may ra mới đưa nhà máy vào vận hành được. Bangladesh đã lùi lại kế hoạch vận hành bao nhiêu năm rồi, lần này định là vào tháng 12 năm nay, nhưng không biết có làm được hay không. Mà trước khi động thổ thì cần phải có một thời gian chuẩn bị nhiều, kể cả việc xét duyệt dự án thì phải mất mấy năm. Cho nên không thể nào năm 2035 mà xong được.
Dự án nhà máy điện thứ hai thì Nhật đã rút lui rồi, bây giờ chắc là Hàn Quốc sẽ nhảy vào được thôi. Chưa có thông tin chính thức gì về chuyện này. Nhưng mà thực ra tôi nghĩ Việt Nam chỉ có thể xúc tiến một lúc một nhà máy thôi, sau đó từ từ tính sau, chứ nhân lực như thế này lấy đâu ra để mà làm nhiều được!"
Một trong những vấn đề lớn nhất của Việt Nam hiện nay đó là đào tạo đủ nguồn nhân lực để vận hành các nhà máy điện hạt nhân một khi hoàn thành. Theo báo chí trong nước, trong cuộc họp báo của bộ Khoa Học và Công Nghệ tháng 9 vừa qua, ông Trần Chí Thành, Viện trưởng Viện Năng lượng Nguyên tử Việt Nam, đã nhìn nhận: "Kế hoạch quy hoạch phát triển, ứng dụng năng lượng nguyên tử đã được ban hành, có đặt ra nhiệm vụ về đào tạo và phát triển nguồn nhân lực. Tuy nhiên, việc triển khai đến nay vẫn chưa thực sự hiệu quả. Một phần vì thiếu kinh phí, phần khác do chưa xác định được đầy đủ những nhiệm vụ cụ thể và nhu cầu đối với công nghệ hạt nhân ở các bộ, ngành khác."
Theo thẩm định, một nhà máy điện hạt nhân có thể cần khoảng 1.000 người, trong đó phần lớn là nhân viên vận hành, kỹ thuật và hỗ trợ (khoảng 700-800 người), còn đội ngũ nhân lực cốt lõi khoảng 200-300 người.
Theo ông Trần Chí Thành, trước đây, Việt Nam đã từng cử gần 100 người sang Nga và Nhật Bản để đào tạo về điện hạt nhân. Tuy nhiên, sau khi trở về, một bộ phận trong số này đã chuyển sang làm việc ở những lĩnh vực khác. Số người quay lại làm việc trong lĩnh vực hạt nhân hiện có lẽ chỉ còn khoảng 30%. Vấn đề là ở Việt Nam hiện nay chưa có những chương trình đào tạo về kỹ thuật hạt nhân bài bản như các quốc gia khác, cho nên trước mắt vẫn phải đưa người đi đào tạo ở nước ngoài, chủ yếu chắc sẽ là ở Nga.
Nhưng theo giáo sư Phạm Duy Hiển, quan trọng hơn hết là đào tạo được những chuyên gia đủ khả năng thẩm định để xét duyệt dự án nhà máy điện hạt nhân:
"Vấn đề này là tùy thuộc vào cách làm điện hạt nhân như thế nào. Nếu như làm điện hạt nhân để mà dần dần tiến đến làm chủ được công nghệ, tự anh có thể thay thế một phần công việc thì khác. Còn nếu như mà làm kiểu như để cho người ta chỉ đâu mình làm đó thì khác. Về cách thứ nhất, hai nước Hàn Quốc và Trung Quốc rất thành công, tức là họ có phần chuyển giao công nghệ từ bên ngoài.
Sau khi chuyển giao công nghệ đó một thời gian tương đối ngắn thì họ có thể làm chủ được công nghệ, như là Hàn Quốc có thể tự xây dựng được nhà máy điện hạt nhân, thậm chí còn xuất khẩu được sang các nước khác. Trung Quốc cũng tự xây dựng được và do nhu cầu xây dựng trong nước rất lớn cho nên họ tự lực cánh sinh được.
Nhưng Việt Nam chưa chắc đã bắt chước như thế được, bởi vì lực lượng công nghiệp của Việt Nam thấp hơn nhiều so với hai nước đó. Thứ hai, nếu muốn làm điện hạt nhân mà dần dần làm chủ công nghệ thì trước hết phải có những người làm trong cái gọi Ủy ban an toàn quốc gia, tức là cơ quan tiếp nhận các kế hoạch của nước ngoài để tự xem xét, thẩm định, phán xét được các dự án đó, nhất là về mặt môi trường, về mặt địa chất. Hiện nay Việt Nam ngay chỗ đấy là cũng đã thiếu người rồi.
Cũng đã có kế hoạch đào tạo, nhưng ta không nên hiểu đào tạo là cử người đi học ở nước ngoài. Đào tạo ở đây là phải thông qua làm việc trong nước, mà muốn làm như vậy thì Việt Nam phải cho chạy được một lò phản ứng công suất lớn, chứ còn công suất như lò Đà Lạt thì chỉ làm những việc ứng dụng thôi. Trước đây chính ông Putin, lúc bấy giờ đang làm thủ tướng, đã đề nghị Nga giúp Việt Nam xây một trung tâm hạt nhân như thế.
Câu chuyện này đã nói từ cái năm 2010, nhưng cho đến bây giờ cũng chưa đâu vào đâu cả. Kinh nghiệm của nhiều nước là muốn có được người giỏi làm chủ được công nghệ thì phải đào tạo qua những cơ sở như thế. Chẳng hạn Bắc Triều Tiên cũng làm theo cách như vậy."
Theo báo chí trong nước, Việt Nam đang triển khai dự án xây dựng một lò hạt nhân nghiên cứu mới tại Đồng Nai, với công suất dự kiến cao hơn khoảng 30 lần so với lò Đà Lạt.
Nhưng đối với điện hạt nhân, quá trình đào tạo không thể thực hiện trong thời gian ngắn. Đội ngũ kỹ sư cần nhiều năm học tập, thực hành và tích lũy kinh nghiệm trước khi có thể đảm nhiệm các vị trí chuyên môn tại nhà máy.
Về điểm này, giáo sư Phạm Duy Hiển ghi nhận:
" Như Nga đã làm cho Bangladesh, tức là họ đưa những người chưa biết gì sang Nga để đào tạo cho các cơ quan pháp quy ở Bangladesh. Còn mình thì bây giờ sắp đến thì chưa biết sẽ làm như thế nào, nhưng phải có đàm phán về những chuyện đó. Chứ còn đào tạo người để điều khiển lò phản ứng thì không khó.
Ta phải phân biệt với việc đào tạo những người để vận hành nhà máy điện hạt nhân. Còn những người tiếp thu được công nghệ và phát triển cho mình để làm chủ được công nghệ thì phải đào tạo cách khác, mất rất nhiều thời gian.
Nước Nga có những cơ sở đào tạo tốt lắm, ở nhiều nơi lắm. Trước đây mình đã dự định làm ( nhà máy điện hạt nhân ) rồi không làm nữa, nhưng mình cũng đã đưa người sang đào tạo bên đấy nhiều. Bây giờ cũng lâu rồi, mười mấy năm nay những người đó phân tán đi đâu hết. Nhưng đó cũng chỉ là những người được đào tạo để vận hành lò phản ứng." - Căng thẳng thương mại Mỹ - Trung giúp Việt Nam hưởng lợi từ chiến lược “Trung Quốc+1” của các doanh nghiệp nước ngoài. Nhiều doanh nghiệp Trung Quốc cũng chuyển hoạt động kinh doanh sang Việt Nam để “lách” các biện pháp hạn chế xuất khẩu trực tiếp từ Trung Quốc. Tính đến cuối tháng 09/2026, tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đăng ký tại Việt Nam đạt 50,36 tỷ đô la, tăng 76,4% so với cùng kỳ năm trước.
Đây là chiến lược ngoại giao đa chiều và tiếp cận đa hướng, “giữ thái độ cởi mở, duy trì hợp tác kinh tế với càng nhiều đối tác càng tốt”, theo nhận định của Ted Osius, nguyên đại sứ Mỹ tại Việt Nam, hiện là nhà đầu tư kiêm cố vấn tại thành phố Hồ Chí Minh, được Bloomberg trích dẫn ngày 11/07/2026. Trong chiến lược này, Việt Nam cố gắng duy trì cân bằng giữa hai cường quốc Mỹ và Trung Quốc, đồng thời là hai đối thủ thương mại. Mỹ giữ vai trò quan trọng vì là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam, trong khi Trung Quốc là đối tác thương mại lớn nhất, đặc biệt trong lĩnh vực cung cấp thiết bị điện tử.
Trong cuộc cạnh tranh giữa hai cường quốc, Việt Nam bị chỉ trích là “sân sau” cho hàng Trung Quốc xuất khẩu sang Hoa Kỳ. Thặng dư thương mại của Việt Nam với Mỹ cao nhất trong số các đối tác thương mại của Washington, khiến Mỹ đe dọa áp thuế cao. Gần đây, sau chuyến công tác tới New York của chủ tịch nước Tô Lâm, Hà Nội thông báo hai bên sắp đạt được thỏa thuận về thuế. Trả lời Bloomberg, ông Tô Lâm cho biết Việt Nam cam kết mua thêm các mặt hàng công nghệ cao như máy bay để thu hẹp thâm hụt thương mại. Ông cho rằng “hoạt động xuất khẩu của Việt Nam phù hợp với nhu cầu của Mỹ và không cạnh tranh trực tiếp với các sản phẩm của Hoa Kỳ”.
Đọc thêmViệt Nam : Tổng bí thư, chủ tịch nước Tô Lâm chuẩn bị một vòng công du Âu – Mỹ
Ngay sau đó, tổng thống Mỹ Donald Trump trải thảm đỏ, đón tiếp trọng thị chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình. Hai nước cũng gia hạn đình chiến thương mại. Liệu những dấu hiệu hòa hoãn này có lợi cho Hà Nội hay không ?
Trả lời RFI Tiếng Việt, tiến sĩ Vũ Khang, chuyên nghiên cứu về Việt Nam, học giả thính giảng tại Khoa Chính trị học Đại học Boston tại Hoa Kỳ, nhận định Hà Nội chỉ có thể hưởng lợi khi mối quan hệ của hai đại cường Trung Quốc và Mỹ không quá hòa dịu cũng không quá đối đầu.
RFI : Trong chuyến công du Mỹ từ ngày 23-25/09 của chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình, tổng thống Donald Trump có nhiều cử chỉ hòa dịu. Nếu Washington và Bắc Kinh tiếp tục xu hướng hòa dịu, điều đó sẽ làm thay đổi bài toán cân bằng chiến lược của Hà Nội như thế nào ? Việt Nam sẽ có thêm dư địa hay là gặp nhiều thách thức hơn trong việc thúc đẩy quan hệ với Hoa Kỳ ?
Tiến sĩ Vũ Khang : Quan hệ Mỹ-Trung có ảnh hưởng trực tiếp đến chính sách ngoại giao đa phương hóa, đa dạng hóa của Việt Nam. Nền tảng chính sách này dựa vào một trật tự thế giới mở, nơi mà các cường quốc tôn trọng quyền lợi của các nước nhỏ và luật pháp quốc tế. Việt Nam không muốn một lần nữa bị đẩy vào thế bị động nếu như Mỹ và Trung Quốc bắt tay nhau và chia nhỏ thế giới thành các khu vực ảnh hưởng riêng biệt hoặc là hai nước này nổ ra một xung đột và bắt buộc Việt Nam phải chọn phe.
Việt Nam được hưởng lợi nhiều nhất khi mà quan hệ Mỹ-Trung không quá thân thiện hay là cũng không quá thù địch. Trong trường hợp này, Việt Nam có thể hưởng lợi từ chuyển dịch vốn và nhà máy từ Trung Quốc và vẫn có thể duy trì được quyền tiếp cận thị trường Mỹ.
Đọc thêmViệt Nam cố giữ cân bằng trong quan hệ với Mỹ và Trung Quốc
Do vậy, việc Mỹ-Trung xoa dịu trong thời điểm áp lực thương chiến và địa-chính trị vấn đề Đài Loan đang ngày càng gia tăng sẽ giúp Việt Nam có thêm dư địa để giữ cả quan hệ với Trung Quốc và Mỹ ổn định. Và tất nhiên, từ góc nhìn của Việt Nam, việc hai nước này có mối quan hệ thân thiết với Hà Nội vẫn là điều ưu tiên trên hết.
RFI : Tổng bí thư-chủ tịch nước Việt Nam Tô Lâm cũng có chuyến công tác New York từ ngày 20 đến 23/09. Chuyến đi của ông Tô Lâm có tạo ra được bước đột phá mới trong quan hệ Việt - Mỹ ?
Vũ Khang : Chuyến đi của tổng bí thư-chủ tịch nước Tô Lâm đến Mỹ tiếp tục khẳng định đường lối đối ngoại độc lập tự chủ của Việt Nam và trong đó, Mỹ là một đối tác rất là quan trọng. Nếu nhìn vào lịch trình của ông Tô Lâm, một trong những chủ đề thảo luận chính lần này chính là mức thuế quan mà Mỹ có thể áp đặt lên Việt Nam.
Theo số liệu từ Cục Hải quan Việt Nam, chỉ trong 8 tháng đầu năm 2026, Việt Nam đã đạt mức thặng dư vượt trên 100 tỷ đô la Mỹ, tăng gần 23% so với cùng kỳ năm trước. Và mức thặng dư này đã đẩy Việt Nam lên vị trí số 1, cao hơn cả những đối tác thương mại lớn khác của Mỹ như là Trung Quốc, Mêhicô, Đài Loan về thâm hụt thương mại.
Đọc thêmĐối tác châu Á giúp Việt Nam tạo thế cân bằng với nhà đầu tư phương Tây
Ngoài vấn đề thuế quan, ông Tô Lâm cũng bày tỏ mong muốn doanh nghiệp Mỹ hỗ trợ Việt Nam đào tạo chuyên môn để có thể giúp Việt Nam tăng vị trí cao hơn trong chuỗi cung ứng toàn cầu và Mỹ sẽ tiếp tục mở rộng thị trường cho hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam. Đổi lại, Việt Nam vẫn sẽ sẵn sàng nhập khẩu sản phẩm công nghệ và dịch vụ từ Mỹ để làm giảm thâm hụt thương mại giữa hai bên. Tuy vậy, hiện giờ vẫn chưa có một thỏa thuận thuế quan nào đạt được giữa Mỹ và Việt Nam.
RFI : Liệu sau chuyến công du này, vấn đề thuế quan Mỹ đối với Việt Nam sẽ tiến triển như thế nào trong thời gian tới ?
Vũ Khang : Việt Nam mong muốn biến vấn đề thuế quan trở thành một lĩnh vực đôi bên cùng có lợi. Việt Nam muốn gia tăng giá trị sản phẩm xuất khẩu, đổi lại Mỹ có thể bán được nhiều hàng hóa và dịch vụ cho Việt Nam hơn. Tuy vậy, chính sách thuế quan của tổng thống Donald Trump nói chung lại luôn đặt quyền lợi của Mỹ lên trên hết, bất chấp ảnh hưởng tới hình ảnh hoặc là lòng tin của các đồng minh và đối tác đối với Mỹ.
Việc tổng thống Trump sẵn sàng đánh thuế quan lên tất cả các đồng minh lâu năm cho thấy sự tương đồng về lợi ích chiến lược chưa chắc đã bảo đảm một mức thuế quan hợp lý cho cả hai bên. Chính sự khó đoán này khiến việc đạt được một thỏa thuận thuế quan rất là khó khăn đối với Việt Nam bởi vì nếu như lợi ích chiến lược hội tụ không thể bảo đảm cho một thỏa thuận thuế quan hợp lý thì chúng ta không có những cơ sở để đoán là Mỹ có thể áp đặt thuế quan một cái mức chấp nhận được.
Đọc thêmBa cuộc điều tra của Mỹ và tác động đến thương mại với Việt Nam
Và khó khăn hơn cho Việt Nam là việc Việt Nam luôn bị đẩy vào thế chống đỡ, kể cả khi Tòa án Tối cao đã bác bỏ mức thuế quan 20% mà Mỹ áp đặt đối với Việt Nam, bởi vì chính sách của tổng thống Trump phần lớn rất là khó đoán. Nếu nhìn rộng hơn về vấn đề thuế quan và quan hệ tay ba Mỹ, Việt Nam và Trung Quốc, chúng ta có thể thấy Việt Nam hoàn toàn không muốn bị đặt vào một tình thế phải chọn một trong hai.
Nếu như Mỹ đặt điều kiện Việt Nam ngả về Mỹ để đổi lại một mức thuế quan thấp thì Việt Nam sẽ ngay lập tức đối diện áp lực từ Trung Quốc khi mà Bắc Kinh cũng đã cảnh cáo các quốc gia không nên theo phe Mỹ để phân tách kinh tế khỏi Trung Quốc trong trường hợp mà Mỹ sử dụng thuế quan để đạt được mục đích đó. Đối với Việt Nam, chọn bên nào cũng sẽ bất lợi.
RFI : Vậy đâu là những khác biệt và trở ngại trong quan hệ Việt - Mỹ hiện nay, bất chấp lợi ích chiến lược ngày càng hội tụ giữa hai nước ?
Vũ Khang : Vào đầu tháng 7 năm nay, tàu sân bay Mỹ George Washington đã ghé thăm cảng Đà Nẵng. Chuyến thăm này cho thấy hai quốc gia vẫn có những lợi ích chung, như là duy trì môi trường hòa bình ổn định dựa trên luật pháp quốc tế ở Biển Đông bất chấp những bất đồng về thuế quan.
Đọc thêmLần đầu tiên từ ba năm qua, một tàu sân bay Mỹ thăm Việt Nam
Cũng có những tin đồn là Việt Nam sẽ mua vũ khí sát thương từ Mỹ như máy bay F-16, máy bay vận tải C-130 hay là trực thăng S-92. Nếu như Việt Nam mua vũ khí của Mỹ trong thời gian sắp tới thì đây sẽ là một mũi tên trúng hai mục đích. Thứ nhất, Việt Nam vừa có thể hiện đại hóa và đa dạng hóa nguồn cung vũ khí khỏi Nga. Thứ hai, Việt Nam vừa có thể làm giảm thâm hụt thương mại với Mỹ.
Tuy vậy, vẫn có những khác biệt rất lớn về kỳ vọng của mối quan hệ Việt - Mỹ bất chấp những lợi ích chiến lược ngày càng hội tụ. Trong khi Mỹ mong Việt Nam có thể tham gia một liên minh chống Trung Quốc hay là ít nhất là ngả về phía Mỹ thì Việt Nam vẫn chỉ coi Mỹ là một trong nhiều đối tác chiến lược toàn diện của mình và vẫn mong muốn duy trì chính sách đối ngoại « Bốn Không », bao gồm Việt Nam sẽ không đứng về phía nước này để chống lại nước kia hoặc là Việt Nam sẽ không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự ở trên lãnh thổ của mình.
Đọc thêmViệt Nam và Hoa Kỳ, những đồng minh tình thế ?
Chính sự chênh lệch về kỳ vọng trong mối quan hệ này có thể dẫn tới những bất đồng chính sách về Trung Quốc giữa Mỹ và Việt Nam. Trong hoàn cảnh xấu nhất, Mỹ hoàn toàn có thể trả đũa Việt Nam nếu như Washington thất vọng về việc lôi kéo Hà Nội vào một liên minh chống Trung Quốc không thành. Những biện pháp trả đũa đó có thể đến từ thuế quan hay là những cấm vận về kinh tế nếu như Hà Nội không cải thiện về hồ sơ nhân quyền mặc dù là Mỹ và Việt Nam đã có những đối thoại về sự khác biệt về những vấn đề này.
RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn Tiến sĩ Vũ Khang, học giả thính giảng tại Khoa Chính trị học Đại học Boston tại Hoa Kỳ. - Hợp tác về công nghệ lượng tử giữa Việt Nam và Pháp, đặc biệt là với Khu đô thị khoa học công nghệ Paris-Saclay, đang trở thành trọng tâm trong quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện giữa Hà Nội và Paris, trong bối cảnh Việt Nam muốn đưa công nghệ lượng tử vào nhóm công nghệ chiến lược quốc gia.
Công nghệ lượng tử được coi là một trong những trụ cột chiến lược quan trọng nhất của kỷ nguyên công nghệ mới, với tiềm năng tạo ra đột phá trong an ninh mạng, tài chính, y tế, năng lượng, vật liệu mới và trí tuệ nhân tạo (AI). Công nghệ lượng tử cũng mang ý nghĩa chiến lược đối với quốc phòng, an ninh, kinh tế số và năng lực cạnh tranh quốc gia.
Do các tiềm năng to lớn đó, nhiều quốc gia như Pháp, Nga, Mỹ, Liên Hiệp Châu Âu, Trung Quốc, Nhật Bản… đã đầu tư hàng tỷ đôla vào nghiên cứu, phát triển và thương mại hóa các nền tảng tính toán lượng tử, truyền thông lượng tử và cảm biến lượng tử.
Trong chuyến thăm chính thức nước Pháp ( 10 và 11/09/2026 ), khi gặp tổng thống Emmanuel Macron, tổng bí thư đảng Cộng sản kiêm chủ tịch nước Việt Nam Tô Lâm đã đề nghị Paris “hỗ trợ Việt Nam từng bước phát triển công nghệ lượng tử.” Trong chuyến đi này, ông Tô Lâm đã đến thăm Paris-Saclay là thung lũng công nghệ và khu đô thị khoa học hàng đầu của Pháp, cụ thể là đã đến thăm Ủy ban Năng lượng nguyên tử Pháp (CEA) và trung tâm nghiên cứu của tập đoàn công nghệ Thales, để thúc đẩy hợp tác giữa hai nước về công nghệ. Khả năng hợp tác về công nghệ lượng tử đã được nêu lên trong cuộc gặp giữa lãnh đạo Việt Nam với các nhà khoa học gốc Việt làm việc tại Paris - Saclay, trong đó có giáo sư Lại Ngọc Điệp, hiện giảng dạy tại École Normale Supérieure Paris-Saclay, Đại học Paris-Saclay.
Trả lời RFI Việt ngữ qua điện thoại ngày 19/09/2029, giáo sư Lại Ngọc Điệp trước hết giải thích về tầm quan trọng của công nghệ lượng tử:
“Công nghệ lượng tử những năm gần đây được nói rất nhiều ở các nước đã phát triển rồi và các nước như Việt Nam thì cũng bắt đầu phải nói đến, bởi vì công nghệ lượng tử là một cái gì đó rất mới, có những tính chất rất ưu việt so với các công nghệ “cổ điển”. Ví dụ như máy tính lượng tử hay truyền thông lượng tử dựa vào tính chất vật lý lượng tử nên thao tác tính toán sẽ nhanh hơn rất nhiều so với các máy tính cổ điển.
Thực ra bản chất thì hiệu ứng lượng tử đã xuất hiện ở trong các công nghệ trước đây, như laser hay là các pin Mặt trời, v.v… Tuy vậy, các hiệu ứng đấy xảy ra ở trạng thái là một tập hợp nhiều hạt. Cho nên các hiệu ứng lượng tử đặc biệt thì lại không được sử dụng và quan sát được. Ngày nay, dựa trên công nghệ khoa học tiên tiến, người ta có thể thao tác các hạt vật chất ở cấp độ nhỏ nhất có thể. Ví dụ như người ta nói đến nguyên tử, hay nói đến một hạt electron, hay là ánh sáng thì người ta nói đến một hạt photon.
Khi mà công nghệ cho phép thao tác ở một hạt cơ bản như vậy thì chúng ta sẽ khai thác được hiệu ứng lượng tử. Và như vậy chúng ta có thể tạo được các sản phẩm gọi là lượng tử, ví dụ như máy tính lượng tử hay truyền thông lượng tử.
Ở các nước phát triển, người ta đã có những nền tảng về mặt lý thuyết, cũng như là công nghệ cho phép họ thực hiện được các sản phẩm lượng tử như vậy, chẳng hạn như Pháp có rất nhiều người được giải Nobel về lượng tử, có rất nhiều phòng thí nghiệm. Cho nên, khoảng 10 năm trở lại đây thì họ đã có những start-up để đưa ra các sản phẩm lượng tử, như máy tính lượng tử hay truyền thông lượng tử.
Máy tính lượng tử là một máy tính mà về mặt lý thuyết ưu việt so với máy tính cổ điển, tức là nó có thể giải quyết được các bài toán lớn mà máy tính cổ điển phải dùng đến cả 500 năm thì bây giờ máy tính năng tử nó sẽ cho cho phép giải quyết trong vòng vài phút hoặc vài giờ. Nhưng tính ưu việt đấy chỉ giải quyết các bài toán lớn, ví dụ như dự báo thời tiết, sản xuất thuốc, hay điều trị bệnh cần phải có một số lượng tính toán khổng lồ và cần một thời gian nhanh thì máy tính lượng tử sẽ phát huy được tính ưu việt.
Về truyền thông thì chúng ta biết là ngày nay internet đã phát triển rất mạnh và có lẽ là trao đổi cũng rất là thuận tiện. Nhưng truyền thông hiện tại là truyền thông “cổ điển”, tức là nếu ai đấy muốn nghe thông tin mà chúng ta trao đổi thì người ta hoàn toàn có thể nghe được. Khi chúng ta truyền tải thông tin thông qua internet thì thực ra là chúng ta đang làm các qubit vào các chùm laser, mỗi một qubit như vậy sẽ được thể hiện thông qua hàng tỷ photon. Nếu ai đấy muốn nghe trộm thì chỉ cần ngắt 1.000 photon là có thể đọc được thông tin chúng ta truyền tải, mà đối tác của chúng ta hoàn toàn không biết là có người nghe trộm. Truyền thông cổ điển là truyền thông thực ra không bảo mật.
Một số ngành nghề có nhu cầu truyền thông bảo mật hơn, như quân đội, công an, hay một số ngành nghề khác. Lúc ấy lượng tử phát huy được thế mạnh, bởi vì truyền thông bằng phương pháp lượng tử tức là thay vì gửi một tỷ photon cho một qbit, thì bây giờ chúng ta sẽ gửi một photon thôi. Photon là hạt cuối cùng của ánh sáng rồi nó không thể được chia đôi nữa, vì vậy khi chúng ta dùng một photon để truyền tải một qbit đi, nếu có ai đấy nghe trộm chúng ta hoàn toàn biết được là thông tin của chúng ta đã bị lộ.
Công nghệ lượng tử hiện được Việt Nam xếp vào nhóm công nghệ chiến lược quốc gia, theo danh mục hồi tháng 5 của Chính phủ. Hệ sinh thái lượng tử trong nước cũng đang hình thành, với Mạng lưới đổi mới sáng tạo và chuyên gia công nghệ lượng tử Việt Nam (VNQuantum) thành lập tháng 8/2025, kết nối nhà khoa học, trường đại học, doanh nghiệp và các công ty khởi nghiệp start - up. Về tiềm năng phát triển công nghệ lượng tử ở Việt Nam, giáo sư Lại Ngọc Điệp nhận định:
“Có lẽ Việt Nam sẽ gặp khó khăn, bởi vì bao nhiêu năm chúng ta đã không có điều kiện để làm nghiên cứu sâu, cho nên có rất nhiều lĩnh vực mà chúng ta thua kém các nước phát triển. Riêng về lượng tử thì lại càng kém hơn, bởi vì đó là một môn vật lý khó khăn hơn, thế hệ trẻ cũng không học nhiều, thành ra chúng ta bây giờ thiếu gần như ở tất cả các công đoạn, thiếu về công nghệ lõi, không có các phòng thí nghiệm, trang thiết bị, dây chuyền sản xuất và ngay cả nhân lực cũng không có.
Bây giờ muốn tham gia cuộc chơi này, chúng ta phải có một kế hoạch làm việc rất bài bản, để sau 5, năm 10 năm có thể bắt kịp với thế giới, để tham gia cuộc đua lượng tử và sau đấy thì sẽ mang các ứng dụng lượng tử đấy vào các ngành nghề.
Vậy thì Pháp nói chung và trung tâm công nghệ Paris-Saclay nói riêng có thể hỗ trợ như thế nào cho Việt Nam phát triển ngành công nghệ lượng tử ? Giáo sư Lại Ngọc Điệp nhấn mạnh là trong lĩnh vực này, Việt Nam phải tự lực nhiều hơn:
Nếu nói về tham gia con đường lượng tử thì Việt Nam cũng không phải là bắt đầu bằng con số 0. Chúng ta rất mạnh về mảng lý thuyết, tính toán. Tức là nhiều người làm về toán học, về lý thuyết, hoặc là tin học của Việt Nam đang tham gia vào chuỗi lượng tử này và làm rất mạnh ở phần tính toán. Thế nhưng, phần thực nghiệm, mà Việt Nam gọi là công nghệ lõi, thì chúng ta Việt Nam lại không có những phòng thí nghiệm lượng tử, cũng như không có nhân lực về thực nghiệm.
Riêng về mặt này thì Pháp lại rất mạnh, bởi vì Pháp đã có nền khoa học phát triển rất lâu đời về mặt lý thuyết cũng như thực nghiệm. Vật lý lượng tử phát triển rất mạnh ở các cấp độ, từ trường đại học cho đến các trung tâm nghiên cứu và nằm rải rác trên toàn nước Pháp.
Thế nhưng, ở Pháp có lẽ có hai cực rất mạnh về lượng tử, được thể hiện qua các giải Nobel chẳng hạn như cực Paris - Saclay hiện đang xếp số 13 của thế giới. Cực thứ hai nằm ở trong Paris cũng đã từng đoạt giải Nobel và cũng phát triển về lượng tử rất mạnh.
Paris- Saclay rất là mạnh bởi vì họ đã có hai, ba giải Nobel liên quan đến lượng tử. Ngoài các giải Nobel ra thì các nhóm nghiên cứu rất là mạnh và họ đã chuyển thành các start-up ( công ty khởi nghiệp). Nếu nói về máy tính lượng tử thì là đã có hai start-up thuộc đại học Paris - Saclay là Quandela, máy tính lượng tử dựa trên công nghệ photon, và cái công ty thứ hai là Pasqal, sản xuất máy tính điện tử dựa trên công nghệ nguyên tử.
Đại học Paris-Saclay rất mạnh cả về nghiên cứu cũng như công nghệ, khi tổng bí thư - chủ tịch nước sang thăm Pháp thì không có lý do gì lại không thăm và trao đổi với đại học Paris-Saclay, nhờ họ giúp đỡ để chúng ta có thể học tập và sau này có thể phát triển, làm việc với họ. Thế nhưng, chuyến thăm của tổng bí thư do thời gian hơi ngắn nên một số dự định ban đầu đã không được thực hiện. Tổng bí thư có gặp một số đơn vị như là Thales hay CEA ( Ủy ban Năng lượng Nguyên tử ) hay Viện Bách Khoa Paris, nhưng họ không đề cập đến công nghệ lượng tử, chỉ đề cập đến những vấn đề khác như năng lượng, không gian hay AI ( trí tuệ nhân tạo ).
Thực ra một cuộc gặp về công nghệ lượng tử đã được lên kế hoạch nhưng không thực hiện được. Chỉ có trong cuộc gặp của tổng bí thư với lại 7 chuyên gia gốc Việt ở Pháp, chúng tôi có trao đổi với tổng bí thư cùng với các cán bộ cao cấp là chúng ta có những người Việt làm việc về lĩnh vực lượng tử này, cũng như là nhiều đối tác của Pháp cũng rất là nhiệt tình đối với khoa học Việt Nam nói chung và đối với công nghệ lượng tử nói riêng. Chúng ta nên tận dụng đội ngũ khoa học gốc Việt, cũng như sự hợp tác của Pháp trong lĩnh vực lượng tử để có thể phát triển khoa học lượng tử trong nước, mà thực ra là phát triển công nghệ lõi, tức là thực nghiệm cũng như đào tạo con người. Pháp cũng coi lượng tử là một công nghệ chiến lược và họ đầu tư khá nhiều tỷ euro cho việc phát triển công nghệ này. Vì vậy họ cũng chỉ có thể giúp đỡ chúng ta ở một phần nào đấy, tức là có thể giúp đào tạo nghiên cứu sinh hoặc là đào tạo master.
Tôi nghĩ rằng Việt Nam, như cuộc trao đổi của chúng tôi với tổng bí thư, phải phát triển công nghệ lượng tử một cách độc lập, tự lực, bằng chính con người của Việt Nam, hoặc tận dụng nguồn trí thức Việt Kiều, những người tâm huyết muốn phát triển công nghệ đó cho Việt Nam.
Như giáo sư Lại Ngọc Điệp có nói ở trên, trong số hai start-up ở Paris-Saclay, có công ty Quandela chuyên phát triển công nghệ máy tính lượng tử sử dụng photon. Theo báo chí Việt Nam, trong khuôn khổ chuyến thăm Pháp của ông Tô Lâm, lãnh đạo tỉnh Gia Lai đã đến tham quan nhà máy sản xuất công nghệ lượng tử của Quandela, tìm kiếm cơ hội hợp tác trong lĩnh vực lượng tử. Chuyến thăm diễn ra ngay trước thời điểm triển khai máy tính lượng tử quang tử Âu Cơ, dự kiến được thiết lập tại Trường Đại học Quang Trung (QTU), tỉnh Gia Lai, thông qua hợp tác giữa Quandela và với công ty khởi nghiệp Quanova của Việt Nam, với sự hỗ trợ tài chính của Nam Á Bank.
Thỏa thuận hợp tác giữa Quandela và Quanova đã được chính thức hóa trong khuôn khổ Diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam – Pháp, nhân chuyến thăm Pháp của tổng bí thư, chủ tịch nước Tô Lâm. Theo thỏa thuận, Quanova đóng vai trò là nhà tích hợp chiến lược cho Quandela tại thị trường Việt Nam, dựa trên nền tảng đã được triển khai giữa Quandela và các đối tác Việt Nam. Một trong những sáng kiến cụ thể đầu tiên trong khuôn khổ hợp tác với Quanova là chương trình đào tạo công nghệ lượng tử tại Trường Đại học Quang Trung.
Quanova sẽ đại diện cho Trường Đại học Quang Trung (QTU) và Nam A Bank hợp tác cùng Quandela triển khai các hoạt động phát triển, tích hợp và thương mại hóa các giải pháp dựa trên công nghệ tính toán lượng tử quang học.
Über Tạp chí Việt Nam
Những vấn đề, sự kiện đang được dư luận quan tâm ở Việt Nam
Podcast-Website