Dự án nhà máy hạt nhân: Nhật Bản rút đi, Việt Nam sẽ khó đạt mục tiêu về điện nguyên tử
12.1.2026
Nhu cầu tiêu thụ điện của ngành công nghiệp Việt Nam, nơi đặt cơ sở sản xuất của nhiều tập đoàn đa quốc gia như Samsung và Apple, thường xuyên vượt quá nguồn cung, vốn bị ảnh hưởng bởi thời tiết cực đoan ngày càng thường xuyên, như hạn hán và mưa bão. Trước tình hình này, Việt Nam muốn tăng sản lượng điện từ nhiều nguồn, chủ yếu là năng lượng tái tạo và khí đốt, nhưng các dự án đã bị chậm trễ và gặp trắc trở do các vấn đề quy định và giá cả, cho nên nay rất trông chờ vào điện hạt nhân. Sau khi quyết định khởi động lại chương trình năng lượng hạt nhân vào năm ngoái, Việt Nam đã giao cho Nga thực hiện dự án Ninh Thuận 1 và Nhật Bản thực hiện dự án Ninh Thuận 2. Vào đầu tháng 12 vừa qua, chính phủ Việt Nam vừa phê duyệt danh mục các công trình và dự án được xếp vào nhóm quan trọng quốc gia, trọng điểm của ngành năng lượng, trong đó có dự án điện hạt nhân Ninh Thuận 1, 2 tại Khánh Hòa. Theo lộ trình của chính phủ, 2 nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 1 và 2 tại Khánh Hòa, công suất 2.000-3.200MW, dự kiến sẽ được đưa vào hoạt động trong giai đoạn 2030-2035. Thế nhưng, chỉ vài ngày sau, Nhật Bản, một trong hai đối tác mà Việt Nam đã chọn, lại thông báo rút khỏi dự án hạt nhân. Hôm 08/12/2025, đại sứ Nhật Bản tại Việt Nam Naoki Ito nói với hãng tin Anh Reuters rằng Nhật Bản đã rút khỏi kế hoạch xây dựng nhà máy điện hạt nhân quy mô lớn tại Việt Nam “vì thời gian quá gấp rút”. Trả lời phỏng vấn RFI Việt ngữ ngày 16/12/2025, giáo sư Phạm Duy Hiển, nguyên viện trưởng Viện Nghiên cứu Hạt nhân Đà Lạt, giải thích: "Thông tin mà đại sứ Nhật ở Việt Nam nêu ra tóm tắt là như thế này: Đấy là những công trình rất là lớn và tiêu chuẩn an toàn của nó thì càng ngày càng cao, mà Việt Nam đặt thời hạn quá gấp, tức là muốn năm 2035 phải xong. Ông ấy cho là không khả thi. Tôi thấy cũng đúng thôi: Đấy là loại lò thế hệ III+, tức là có trang bị các thiết bị chống lại mất an toàn bằng phương pháp thụ động. Trong thời gian gần đây, các lò có công suất tương đương như thế được xây ở Mỹ , ở Phần Lan, ở Trung Quốc, đặc biệt ở Bangladesh, do Nga giúp xây dựng. Công trình rất lớn và rất phức tạp, đòi hỏi tiêu chuẩn an toàn cao, nhưng Việt Nam lại yêu cầu là năm 2035 phải xong, thậm chí Việt Nam còn có một yêu cầu khác, tức là trong quá trình xây dựng lò như thế thì phải có chuyển giao công nghệ. Những điều đó là Nhật không thể thực hiện được. Nhật còn nói thêm là bây giờ, sau vụ Fukushima, hiện nay là ở Nhật cũng có những đòi hỏi về xây các lò phản ứng mới. Do đó họ không đủ khả năng để làm theo yêu cầu của Việt Nam. Căn cứ trên kết quả xây các lò loại thế hệ III + ở các nước thì đều hoặc là trễ tiến độ, hoặc là đội giá thành lên gấp một vài lần. Ở Bangladesh chẳng hạn, công trình do Nga trực tiếp làm đáng lý ra phải được đưa vào vận hành năm 2023, nhưng đã trễ sang năm 2024, rồi lùi sang năm 2025 và bây giờ phải đến tháng 12/26 may ra mới có thể vận hành được. Như thế rõ ràng việc xây dựng các lò lớn như thế hiện nay là một vấn đề rất khó khăn." Quyết định của Tokyo có thể làm phức tạp thêm chiến lược dài hạn của Việt Nam phát triển điện hạt nhân nhằm tránh tình trạng thiếu điện. Nói cách khác, Việt Nam khó mà đạt mục tiêu về thời hạn đặt ra cho 2 dự án nhà máy hạt nhân Ninh Thuận 1 và Ninh Thuận 2: "Bây giờ Nhật Bản từ chối, như thế là Việt Nam cũng sẽ gặp khó khăn trong việc thực hiện các mục tiêu lớn của Việt Nam: phải có điện là một, điện sạch là hai và ngoài ra đến năm 2050 phải đạt trung hòa carbon. Những mục tiêu đó là rất là khó đạt. Nhưng đại sứ Nhật cũng có nói Nhật mở ra một khả năng, tức là sẽ tham gia phát triển các công nghệ lò gọi là lò module, có thể lắp ghép được, gọi là SMR, công suất khoảng vài trăm megawatt. Nhật Bản sẽ hợp tác với Việt Nam trong các dự án đó." Sau khi Nhật Bản rút khỏi dự án Ninh Thuận 2, phía Nga đã trấn an là họ sẽ không bỏ rơi Việt Nam. Theo báo chí trong nước, trong cuộc điện đàm ngày 11/12 với thủ tướng Phạm Minh Chính, tổng giám đốc Tập đoàn Rosatom của Nga đã cam kết hợp tác với Việt Nam "xây dựng nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 1 theo công nghệ hiện đại nhất." Tuy nhiên, theo giáo sư Phạm Duy Hiển, cũng không chắc là Nga có thể làm theo đúng tiến độ như mục tiêu mà Việt Nam đề ra "Nga thì quyết tâm làm, khác với Nhật Bản. Họ còn có một chương trình hợp tác với Việt Nam rộng rãi hơn, bao gồm việc xây dựng trung tâm phát triển hạt nhân với lò phản ứng 10 MW và một số chuyện nữa liên quan đến nhiên liệu của trung tâm Đà Lạt. Đó là một dự án có thể nói là tổng hợp nhiều thứ và do đó việc họ phải làm dự án Ninh Thuận 1 là điều chắc chắn. Thế còn họ làm được đến mức nào thì như tôi nói khi nãy, căn cứ theo cái mà họ làm với Bangladesh thì thấy là trễ tiến độ khoảng hơn 7 năm. Cho nên nếu mà Việt Nam có làm, thì phải có những cọc mốc. Những cái cọc mốc đó rất là quan trọng, ví dụ như phải ký kết giữa hai bên, cam kết là nước Nga sẽ xây nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 1 và cung cấp đủ tài chính để làm dự án. Cho đến bây giờ vẫn chưa thấy cọc mốc đó. Sau khi hai bên chính thức ký kết, có tiền bạc đủ rồi, tôi nghĩ ít nhất phải hơn 10 năm thì mới có thể hoàn thành được. Cho nên khả năng hoàn tất dự án vào năm 2035 đối với Nga cũng là không dễ. Tuy Nga chưa nói cụ thể hạn định nào,ví dụ như là bao giờ đổ mẻ bê tông đầu tiên để mà xây nhà lò , sau đó ít nhất là 7 năm, 8 năm thì mới hoàn thành. Bây giờ cho đến lúc đổ bê tông đầu tiên chưa thấy con đường đi như thế nào cả. Các nhà lãnh đạo Việt Nam có những kế hoạch, có những mục tiêu muốn đặt ra. Đối với một số công trình cổ điển thì có thể đặt kế hoạch năm này năm khác được, còn loại công trình này Việt Nam chưa hề có những trải nghiệm nào cả. Với kinh nghiệm trong những năm gần đây về xây các lò công suất lớn ở nhiều nước, kể cả những nước tư bản hiện đại, tôi cho rằng con đường đó sẽ không tồn tại lâu được. Những lò công suất trung bình, công suất bé có thể là giải pháp tổng thể cho bài toán điện hạt nhân của nhiều nước. Và nó cũng thích hợp với Việt Nam trong nhiều mặt, tức là về vấn đề chọn địa điểm, vấn đề vốn, vân vân... Có điều hiện nay chưa có nước nào đưa ra một lò thương mại hóa cho toàn thế giới cả. Mọi người đều có ý kiến là có thể loại lò đó sẽ chỉ được thương mại hóa sau năm 2030. Tôi nghĩ cũng có lý." Với sự chậm trễ trong các dự án xây dựng nhà máy điện hạt nhân, Việt Nam đang đứng trước nguy cơ thiếu điện trầm trọng và phải gấp rút tìm những nguồn năng lượng bổ sung, theo giáo sư Phạm Duy Hiển: "Tôi nghĩ là điều đó cần phải đem ra bàn bạc và đó là một nguy cơ có thể có. Hai nhà máy điện Ninh Thuận 1 và Ninh Thuận 2 đóng góp công suất rất lớn, mà bây giờ một nhà máy dứt khoát là không có rồi, cho nên là Việt Nam trong tương lai cho đến những năm 2040 là sẽ thiếu điện. Bây giờ trở lại dùng than thì khó .May ra hiện nay có một triển vọng là phát triển một số mỏ khí. Có những thông tin như vậy và cũng khá chắc chắn, thậm chí người ta cũng đã nói đến đường dẫn ống khí về đất liền. Tôi hy vọng đó là một nguồn có thể thay thế, nhưng cũng phải chờ những thông báo chính thức. Nếu không có những nguồn khí như vậy thì rõ ràng là Việt Nam phải đặt vấn đề lấy đâu ra nguồn để thay thế ít nhất là một nhà máy của Nhật sẽ không đưa vào hoạt động." Theo nguồn tin mà giáo sư Phạm Duy Hiển có được, Hàn Quốc đã chính thức nhận xây nhà máy điện hạt nhân thứ hai, thay chỗ của Nhật Bản và hiện "đang vào cuộc nhanh chóng". Tuy nhiên, hiện thông tin này chưa được chính thức xác nhận. Trong cuộc họp ngày 07/01 vừa qua, thủ tướng Việt Nam Phạm Minh Chính đã bày tỏ quan ngại về sự chậm trễ trong dự án nhà máy hạt nhân, "tiến độ công việc chưa được như mong muốn, có nhiều vướng mắc phải tháo gỡ ngay như công tác đàm phán hiệp định hợp tác còn chậm, phụ thuộc nhiều vào các đối tác nước ngoài; bố trí vốn cho giải phóng mặt bằng…" Ông Phạm Minh Chính giao cho bộ Công Thương và bộ Ngoại Giao trong tháng 1/2026 phải kết thúc đàm phán với phía Nga về hợp tác đầu tư xây dựng nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 1. Đồng thời thủ tướng Việt Nam thúc giục tập đoàn Petrovietnam, bộ Công Thương, Bộ Ngoại Giao đề xuất lựa chọn thay thế Nhật Bản một đối tác mới "có công nghệ nguồn tiên tiến phù hợp với tình hình mới" để hợp tác đầu tư xây dựng nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 2. Nhưng có vẻ như Việt Nam không có lựa chọn nào khác ngoài việc phát triển các lò phản ứng hạt nhân kiểu module. Theo Nghị quyết phát triển năng lượng quốc gia giai đoạn 2026 - 2030, được Quốc Hội Việt Nam thông qua, có hiệu lực từ ngày 1.3.2026, chính phủ được giao ban hành cơ chế đầu tư phát triển điện hạt nhân (ĐHN) module nhỏ (SMR) "theo từng thời kỳ, căn cứ nhu cầu và tình hình thương mại hóa công nghệ và đảm bảo an ninh, an toàn hạt nhân".
Mỹ trở lại Đông Nam Á: ASEAN và Việt Nam có giữ được cân bằng an ninh với Trung Quốc?
05.1.2026
Tháng 10/2025, tổng thống Mỹ Donald Trump đến Kuala Lumpur, Malaysia, họp thượng đỉnh với các nước ASEAN nhằm trấn an đồng minh, đối tác. Hoa Kỳ đã ký nhiều thỏa thuận, cam kết liên quan đến an ninh với Việt Nam, Malaysia, Philippines, Cam Bốt. Liệu Đông Nam Á lại trở thành tâm điểm trong chính sách đối ngoại của Mỹ năm 2026 ? Tại sao Washington lại tái khẳng định hiện diện mạnh mẽ hơn ở Đông Nam Á, đặc biệt là ở Biển Đông, trong thời điểm này ? Liệu những cam kết như vậy có lợi cho Việt Nam không ? RFI Tiếng Việt phỏng vấn nhà nghiên cứu địa-chính trị Laurent Gédéon, tại Viện Đông Á (Institut d’Asie orientale), Trường Sư phạm Lyon (ENS Lyon), Pháp. RFI : Việc Hoa Kỳ trở lại hội nghị thượng đỉnh châu Á gửi đi một tín hiệu chính trị mạnh mẽ. Washington thực sự đang tìm kiếm điều gì thông qua việc tái khẳng định sự hiện diện của họ ở Đông Nam Á này ? Laurent Gédéon : Đúng là Pete Hegseth đã đến Kuala Lumpur ngày 30/10/2025 để tham dự cuộc họp của các bộ trưởng Quốc Phòng ASEAN mở rộng. Có thể thấy rõ Mỹ muốn tận dụng cơ hội này để tái khởi động mối quan hệ với ba kiểu quốc gia : Trung Quốc ; các nước trong khu vực có quan hệ tốt nhưng không mang tính chiến lược ; các nước có mối liên hệ chặt chẽ với Mỹ về quốc phòng. Ông Hegseth đã gặp bộ trưởng Quốc Phòng Trung Quốc Đổng Quân để thảo luận về việc nối lại các cuộc trao đổi quân sự trực tiếp giữa Washington và Bắc Kinh, nhưng cũng chia sẻ những lo ngại của Mỹ về hành vi của Trung Quốc ở Biển Đông và xung quanh Đài Loan. Thông qua cuộc gặp với người đồng cấp Trung Quốc, bộ trưởng Chiến Tranh Mỹ muốn tái khẳng định cam kết của Washington về hai vấn đề này. Rất có thể là việc tỏ thái độ kiên quyết đó chủ yếu nhằm mục đích trấn an các bên khác tham dự hội cấp cao về quyết tâm của Washington. Ngoài ra, ông Hegseth cũng đã tận dụng cơ hội đó để ký nhiều thỏa thuận quân sự với ba quốc gia trong khu vực. Trước tiên là với Philippines, ông Hegseth gặp bộ trưởng Quốc Phòng Philippines và tuyên bố thành lập Lực lượng Đặc nhiệm Philippines (Task Force-Philippines). Đây là một sáng kiến chung nhằm cải thiện sự hợp tác và khả năng tương tác giữa Mỹ và Philippines trong trường hợp khẩn cấp ở Biển Đông và các khu vực khác. Đọc thêmMỹ và Malaysia củng cố hợp tác quốc phòng ở Biển Đông để đối phó với "chiến thuật vùng xám" Với Malaysia, ông Hegseth đã họp với bộ trưởng Quốc Phòng Mohamed Khaled Nordin. Hai bên đã ký một bản ghi nhớ về hợp tác quốc phòng, công bố gia hạn thỏa thuận chung về mua sắm thiết bị quân sự và hỗ trợ nhau. Và cuối cùng, với Cam Bốt, ông và người đồng cấp Cam Bốt đã tuyên bố nối lại cuộc tập trận chung thường niên, vốn bị đình chỉ từ năm 2017. Hai bên cũng đề cập đến khả năng một tàu chiến của Mỹ đến thăm Căn cứ Hải quân Ream ở Cam Bốt. Căn cứ này được Trung Quốc hỗ trợ hiện đại hóa và lực lượng Trung Quốc được hưởng quyền tiếp cận đặc biệt. Tất cả những yếu tố này, bao gồm cả cuộc gặp với bộ trưởng Quốc Phòng Việt Nam, đều thể hiện rõ mong muốn tái đầu tư của Mỹ vào khu vực và, thông qua các thỏa thuận này, mong muốn tích hợp một số nước trong khu vực vào một cấu trúc an ninh trong tương lai mà phần nào có thể nhắm đến Trung Quốc. RFI : “Nước Mỹ trên hết không có nghĩa là Nước Mỹ đơn độc”. Ông Hegseth tái khẳng định cam kết của Hoa Kỳ đối với khu vực Ấn Độ-Thái Bình Dương. Điều này đã được thể hiện qua quan hệ đối tác an ninh giữa Mỹ với Malaysia và với Philippines, như ông đã giải thích. Liệu sự trở lại ấn tượng như vậy có thuyết phục được các nước ASEAN và có lợi cho họ không, khi mà những nước này không hề nhắc đích danh Bắc Kinh trong những lời chỉ trích về hành động gây bất ổn của Trung Quốc ? Laurent Gédéon : Đúng vậy, không gian hàng hải đã được nhấn mạnh thành trọng tâm bởi vì trong tuyên bố ngày 01/11/2025, ông Hegseth nói : Chúng tôi đang thực hiện nguyên tắc “Nước Mỹ trên hết”. Nhưng “Nước Mỹ trên hết” không có nghĩa là chỉ riêng nước Mỹ. Nó có nghĩa là cùng với các đồng minh và đối tác của chúng tôi, những bên có khả năng duy trì an ninh, ổn định, tự do hàng hải và cuối cùng là hòa bình. Mặc dù các nước ASEAN không nêu đích danh Trung Quốc, nhưng Bắc Kinh đã được bộ trưởng Chiến Tranh Mỹ nhắc đến rất nhiều. Ví dụ, trong cuộc họp không chính thức, ông Hegseth đã cảnh báo các bộ trưởng Quốc Phòng ASEAN về mối đe dọa mà Trung Quốc gây ra cho chủ quyền của nước họ. Ông nói : Hành động của Trung Quốc là một lời cảnh tỉnh... Các hành động khiêu khích của Trung Quốc cũng thể hiện sự thiếu tôn trọng đối với đất nước của quý vị, thách thức và đe dọa chủ quyền lãnh thổ của đất nước quý vị. Ông Hegseth tái khẳng định cam kết của Hoa Kỳ trong việc duy trì một khu vực Ấn Độ-Thái Bình Dương an toàn và ổn định. Ông cũng cổ vũ sự hợp tác giữa Mỹ và ASEAN để phát triển nhận thức tình hình hàng hải chung, đặc biệt là ở Biển Đông. Đây là điểm quan trọng. Thêm vào đó, ngày 09/09, bộ trưởng Quốc Phòng Mỹ đã nói với người đồng cấp Trung Quốc Đổng Quân rằng Mỹ có những lợi ích sống còn ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương, mà Washington coi là một khu vực hoạt động ưu tiên, và Mỹ sẽ kiên quyết bảo vệ những lợi ích đó. Tuy nhiên, có thể nhận thấy cho dù Mỹ thể hiện quyết đoán, có lập trường vững chắc như vậy, các quốc gia trong khu vực vẫn còn khá lưỡng lự về mức độ cam kết của Washington đối với các vấn đề như Biển Đông và Đài Loan. Thái độ lưỡng lự này được thôi thúc bởi điều được gọi là “sự mơ hồ chiến lược” của Mỹ, khi Washington không nêu rõ là sẽ tham gia hay không, hoặc là họ sẽ tham gia như thế nào vào một cuộc xung đột công khai với Trung Quốc. RFI : Sự trở lại của Mỹ, hay nói đúng hơn là sự tăng cường cam kết của Mỹ đối với khu vực có thể sẽ mang lại lợi ích như thế nào cho Việt Nam ? Laurent Gédéon : Tôi nghĩ rằng bất kỳ sự tái đầu tư nào của Mỹ vào khu vực, nếu không dẫn đến xung đột trực tiếp với Trung Quốc, đều chỉ có lợi cho Việt Nam, vì nó củng cố cán cân chiến lược khu vực và giảm bớt quan hệ bất đối xứng với Trung Quốc, ngay cả khi không có thỏa thuận quân sự chính thức giữa Hà Nội và Washington. Đọc thêmBiển Đông, Trung Quốc : Việt Nam cần đề phòng khả năng Trump "rũ áo" như với Ukraina? Do đó, chắc chắn rằng lập trường kiên quyết của ông Hegseth, đặc biệt là về Biển Đông, chỉ có thể được Hà Nội hoan nghênh vì nó phù hợp với các tuyên bố và yêu cầu của Việt Nam. Tuy nhiên, vẫn tồn đọng một sự bất trắc chiến lược, đặc biệt là về ý muốn thực sự của Mỹ trong việc ngăn chặn chủ nghĩa bành trướng của Trung Quốc bằng vũ lực nếu tình hình đòi hỏi. Điểm bất trắc thứ hai liên quan đến kết quả của một cuộc đối đầu tiềm tàng giữa Trung Quốc và Mỹ. Các kịch bản được thảo ra cho kết quả khác nhau, và không phải tất cả đều cho rằng lực lượng Mỹ thắng quân đội Trung Quốc. Do đó, tôi tin rằng những điểm không chắc chắn này sẽ khiến Việt Nam tiếp tục thận trọng trong lập trường ngoại giao, ưu tiên giữ trung lập giữa Washington và Bắc Kinh để bảo vệ tương lai của mình. RFI : Thỏa thuận được gọi là “Thỏa thuận hòa bình” giữa Thái Lan và Cam Bốt được ký kết dưới sự bảo trợ của tổng thống Mỹ Donald Trump. Sự kiện này cho thấy mức độ ảnh hưởng của Hoa Kỳ tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Nhưng liệu kiểu ảnh hưởng đó, dưới sự đe dọa về hậu quả kinh tế, có bền vững hay không ? Laurent Gédéon : Chính sách của chính quyền Trump nhìn chung được coi là tương đối khó đoán, điều này làm suy yếu niềm tin vào tính ổn định chiến lược của Hoa Kỳ. Về thỏa thuận do Donald Trump, thủ tướng Thái Lan và thủ tướng Cam Bốt cùng ký, mặc dù được mô tả là một “thỏa thuận hòa bình”, nhưng nó giống với một thỏa thuận ngừng bắn hơn, bởi vì không giải quyết được vấn đề cốt lõi, liên quan đến tranh chấp biên giới giữa hai nước. Đọc thêmChính sách thuế của Trump cản trở chiến lược « xoay trục sang châu Á » của Mỹ Đúng là Donald Trump tự nhận là đóng vai trò quan trọng trong quá trình này, nhất là bằng cách đe dọa đình chỉ các cuộc đàm phán thương mại với cả hai nước và tăng thuế quan. Điều này diễn ra trong bối cảnh Cam Bốt lúc đó chịu mức thuế 49% và Thái Lan 36%. Rõ ràng là áp lực của Mỹ đã thúc đẩy cả hai bên tạm ngừng giao tranh nhưng không chấm dứt được xung đột. Hơn nữa, hai quốc gia khác cũng đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết tạm thời tranh chấp : Malaysia, quốc gia giữ chức chủ tịch ASEAN năm 2025, và Trung Quốc. Cả Kuala Lumpur và Bắc Kinh đều gây áp lực để ngăn chặn xung đột leo thang, bởi vì sẽ đi ngược lại lợi ích của họ. Do đó, sáng kiến của Mỹ quan trọng nhưng cần được xem xét dưới góc độ hai hạn chế sau đây : Thứ nhất, đây không phải là một giải pháp dứt điểm cho xung đột, mà chỉ là một thỏa thuận ngừng bắn ; Thứ hai, điều đó chỉ có thể thực hiện được nhờ hành động phối hợp, dù kín đáo, của hai quốc gia khác. Và đó chính là cách mà các nước trong khu vực nhìn nhận và phân tích. RFI : Philippines giữ chức chủ tịch luân phiên ASEAN năm 2026. Manila có lập trường cứng rắn đối với Trung Quốc, cùng với cam kết của Mỹ, về vấn đề Biển Đông. Chúng ta có thể kỳ vọng những diễn biến nào trong năm 2026 ? Laurent Gédéon : Đúng là rất khó để dự đoán tương lai. Nhưng những yếu tố hiện có cho thấy Philippines, quốc gia đã xích lại gần hơn đáng kể với Mỹ kể từ khi ông Ferdinand Marcos Jr. lên nắm quyền vào năm 2022, có thể sẽ tìm cách thúc đẩy một động thái cứng rắn hơn, hoặc thậm chí là cưỡng chế, đối với Trung Quốc. Ví dụ, Philippines có thể sẽ cố gắng khôi phục việc xây dựng Bộ Quy tắc Ứng xử (COC) ở Biển Đông. Dự án này có từ năm 2002 nhưng chưa bao giờ thành hiện thực, chủ yếu là do Trung Quốc thiếu hành động. Chính quyền Manila cũng có thể cố gắng đạt được sự lên án rõ ràng đối với các hành động của Trung Quốc ở Biển Đông, điều mà ASEAN chưa từng làm cho đến nay. Tuy nhiên, Philippines sẽ phải tính đến việc các nước thành viên ASEAN có mức độ quan hệ khác nhau với Trung Quốc, điển hình như các nước Cam Bốt, Thái Lan và Miến Điện sẽ cố gắng làm giảm nhẹ bất kỳ sáng kiến nào của nước chủ tịch ASEAN mà họ coi là không thân thiện, hoặc quá không thân thiện với Trung Quốc. Đọc thêmPhilippines-Mỹ-Nhật diễn tập tại Biển Đông, Trung Quốc kêu gọi Manila ngừng khiêu khích Một điểm đáng chú ý khác, có thể sẽ được quan tâm trong năm 2026, liên quan đến Đài Loan và khả năng Trung Quốc tiến hành hành động quân sự nhắm đến hòn đảo. Nếu kịch bản này xảy ra và Mỹ can thiệp, Philippines sẽ ở tuyến đầu, thậm chí có thể là một bên tham chiến. Trong giả thuyết này, câu hỏi đặt ra là về khả năng hành động và mức độ chủ động của Philippines trong ASEAN, bởi vì Philippines vừa là một bên tham gia xung đột vừa giữ chức chủ tịch ASEAN. Do đó, năm 2026 chắc chắn sẽ có rất nhiều biến động và cần được theo dõi sát sao. RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn nhà nghiên cứu Laurent Gédéon, giảng viên Trường Sư phạm Lyon.
2025 : Một năm cải cách, bất trắc để Việt Nam khởi động "kỷ nguyên mới"?
29.12.2025
Năm 2025 khép lại với hội nghị của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII ngày 22-23/12 và khả năng ông Tô Lâm tiếp tục làm tổng bí thư, theo nguồn tin của Reuters. Năm 2025 cũng đánh dấu nhiều kỷ lục về kim ngạch thương mại, số lượt du khách nước ngoài đến Việt Nam ; tăng trưởng “sáng nhất trong khu vực” Đông Nam Á, tinh gọn bộ máy hành chính. Bên cạnh đó là những thiệt hại khủng khiếp do thiên tai, ô nhiễm môi trường. RFI Tiếng Việt điểm lại một số sự kiện quan trọng tại Việt Nam năm 2025. Tổng bí thư tập trung quyền lực trong nước Tại hội nghị của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII, các đại biểu nhất trí ủng hộ những chính sách được tổng bí thư Tô Lâm thúc đẩy. Ông Tô Lâm trở thành người thi hành được nhanh chóng “cuộc cách mạng chống quan liêu” được ấp ủ từ lâu. Thành công này cũng cho thấy quyền lực cá nhân của ông Tô Lâm và những chiến lược tập trung quyền lực đằng sau, theo nhận định của giám đốc nghiên cứu Benoît de Tréglodé, Viện Nghiên cứu Chiến lược (IRSEM), Trường Quân sự Pháp, khi trả lời RFI Tiếng Việt ngày 04/07/2025 : “(…) Nếu một cuộc cải cách đầy tham vọng như vậy được thực hiện bởi một người duy nhất thì đó là do ông ấy không cảm thấy bị bất kỳ ai đe dọa và điều này nằm trong quyền lực to lớn của ông trong bộ máy chính trị Việt Nam. Vào đúng năm trước Đại hội Đảng, với cuộc tinh giản bộ máy hành chính ở cấp địa phương, nhưng cũng có thể nói là ở cấp trung ương, ở cấp bộ, không ai chắc chắn là giữ được vị trí của mình, kể cả trong Ban Chấp hành Trung ương. Số người may mắn được chọn sẽ ít hơn vào năm 2026. Có thể nói chiến dịch kiểm soát khổng lồ này thậm chí còn hiệu quả hơn các chiến dịch chống tham nhũng thông thường. Bởi vì chúng khiến mọi người run sợ, ai cũng muốn giữ lấy chỗ và có thể theo đuổi sự nghiệp trong một bộ máy hành chính bị thu hẹp lại”. Đọc thêmSáp nhập tỉnh, thành 2025 : Chiến lược tập quyền và thành công cá nhân của TBT Tô Lâm Mở rộng vai trò của tổng bí thư trên trường quốc tế Trong hơn một năm giữ chức tổng bí thư, ông Tô Lâm có lẽ là lãnh đạo đảng công du nước ngoài nhiều nhất, thăm hơn 20 nước, ký nhiều thỏa thuận nâng cấp quan hệ đối tác. Tổng bí thư không chỉ còn muốn đứng đầu đảng, giữ vai trò về tư tưởng, mà là một nhà lãnh đạo cao nhất. Và ông Tô Lâm đang làm cho các đối tác phương Tây quen dần với hình ảnh này, theo nhận định của tiến sĩ Vũ Khang, Đại học Boston, Mỹ : “Việt Nam đã đặt các đối tác phương Tây vào vị trí phải công nhận tính chính danh và sự ngang hàng của vị trí tổng bí thư với các vị trí nguyên thủ quốc gia qua các cuộc gặp cấp cao. Đây cũng là một di sản của cố tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng khi ông đã thành công bắt Mỹ phải công nhận tổng bí thư là ngang hàng với chức tổng thống Mỹ. Điều này chứng tỏ đây là một chính sách đường dài chứ không phải ngắn hạn cho kỳ Đại hội Đảng sắp tới, và dù ai ở vị trí tổng bí thư đi chăng nữa thì cũng sẽ được kế thừa di sản này”. Đọc thêmNâng cấp đối tác chiến lược toàn diện với Pháp, chủ tịch Tô Lâm muốn thể hiện năng lực ngoại giao, ổn định chính trị Việt Nam Mối quan hệ đặc biệt với Pháp được thể hiện qua chuyến công du Hà Nội của tổng thống Emmanuel Macron. Với 14 thỏa thuận trị giá 9 tỷ euro, Pháp muốn hiện diện mạnh mẽ tại Việt Nam, kể cả trong lĩnh vực quốc phòng. Giáo sư Pierre Journoud, Đại học Paul Valery - Montpellier 3, đánh giá : “Có thể nói ngắn gọn rằng bối cảnh hiện nay thuận lợi cho việc Việt Nam và Pháp xích lại gần hơn trong lĩnh vực quốc phòng. Pháp là nước xuất khẩu vũ khí lớn thứ hai thế giới vào năm 2024, cho nên có một số tham vọng chính đáng ở khu vực Đông Nam Á. Còn Việt Nam đã tổ chức triển lãm quốc phòng quốc tế lần thứ hai tại Hà Nội vào tháng 12/2024. Việt Nam bắt đầu đa dạng hóa việc mua vũ khí và trang thiết bị quân sự để bù đắp cho những thiếu hụt thực sự, hoặc được cho là như vậy, của nhà cung cấp Nga, vốn chiếm ưu thế ở Việt Nam”. Kim ngạch thương mại lập kỷ lục, bất chấp thuế đối ứng của Mỹ Năm 2025, tổng kim ngạch thương mại của Việt Nam lập kỷ lục, đạt 920 tỷ đô la, tăng 16,9% so với năm 2024, theo Tổng Cục Hải quan. Trung Quốc tiếp tục là thị trường cung cấp hàng hóa lớn nhất cho Việt Nam, đạt kim ngạch 183 tỷ đô la. Mỹ tiếp tục là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam, đạt mốc kỷ lục gần 152 tỷ đô la, bất chấp các biện pháp thuế đối ứng (20%) của tổng thống Donald Trump. Tuy vậy, trả lời RFI Tiếng Việt, chuyên gia kinh tế Lê Đăng Doanh cho rằng mức thuế 20% vẫn bất lợi cho các doanh nghiệp Việt Nam, so với một số nước khác được mức thuế 19% hoặc 15% : “Theo tôi, những mặt hàng bị tác động bao gồm may mặc, da giày, kể cả một số mặt hàng đồ gỗ. Nếu như tình hình tiếp tục như thế này, các nhà xuất khẩu Việt Nam sẽ phải tìm cách đa dạng hóa các thị trường và tìm các biện pháp để có thể tiếp tục duy trì sản xuất và xuất khẩu và tìm cách né tránh thuế 20% này. Hiện nay Việt Nam đang cố gắng tìm cách mở rộng thị trường ở Trung Đông và tìm kiếm những thị trường ở châu Phi, đồng thời muốn phát triển những thị trường khác tuy nhỏ nhưng hy vọng là sẽ vẫn có thể đón nhận được hàng hóa của Việt Nam một cách thuận lợi”. Đọc thêmViệt Nam: Thuế "trung chuyển" của Mỹ gây khó khăn cho doanh nghiệp đầu tư nước ngoài Thặng dự thương mại (đạt 21,2 tỷ đô la) chủ yếu đến từ khối đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) với 48,2 tỷ đô la bởi vì các doanh nghiệp trong nước thâm hụt thương mại hơn 27 tỷ đô la. Mức thuế 20% có thể khả thi cho hoạt động xuất khẩu của các nhà đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên, thuế “trung chuyển” (transshipment) lên tới 40% mới là vấn đề khó khăn. Ông Jean-Jacques Bouflet, phó chủ tịch Phòng Thương mại châu Âu tại Việt Nam - EuroCham, giải thích với RFI Tiếng Việt ngày 08/08 : “Theo thuật ngữ hải quan Hoa Kỳ, “trung chuyển” không chỉ đơn giản là dỡ hàng từ một phương tiện vận chuyển hay từ một hình thức vận chuyển này sang một phương tiện hoặc hình thức vận chuyển khác, mà chủ yếu là sự thay đổi nguồn gốc ở nước cuối cùng. Nói cách khác, nếu quyết định đánh thuế hàng “trung chuyển” được sử dụng để áp đặt một hàm lượng nội địa tối thiểu đáng kể, thì có nghĩa là để ngăn chặn nhập khẩu nguyên liệu từ các nước thứ ba, ý tôi muốn nói ở đây là Trung Quốc chẳng hạn. Đây có lẽ sẽ là một vấn đề lớn đối với phần lớn lĩnh vực sản xuất của Việt Nam (…) bởi vì hiện tại, Việt Nam không thể bảo đảm sản xuất được 100% hoặc 80% sản lượng nội địa, có thể là trừ sản xuất nông nghiệp”. Mục tiêu tăng trưởng 10% năm 2026 khó đạt được vì khó khăn toàn cầu Với tổng kim ngạch thương mại năm 2025 đạt 920 tỷ đô la, Việt Nam gia nhập nhóm 25 nền kinh tế thương mại lớn nhất thế giới. Sau mức tăng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) khoảng 8%, chính phủ đề ra mục tiêu tăng trưởng 10% cho năm 2026. Ông Hubert Testard, chuyên gia về châu Á, tổng biên tập báo mạng Asialyst, cho rằng “mục tiêu này lại quá lạc quan, rất tham vọng” : “Trước tiên là mức thuế quan trung bình 20% của Mỹ mà ai cũng biết, nhưng cũng phải kể đến nhiều mức thuế đặc biệt khác đối với ô tô, thép, nhôm. Gần đây, còn có một vấn đề khác đối với các nhà xuất khẩu thủy sản Việt Nam, với thông báo ngừng xuất khẩu một số mặt hàng vào năm 2026. Ngoài ra, bối cảnh chung ở một số nước khác cũng không đặc biệt hơn. Nghĩa là nhu cầu của Trung Quốc không mạnh lắm, châu Âu thì đang cố gắng hạn chế dòng hàng nhập khẩu từ châu Á, đặc biệt là từ Trung Quốc. Vì vậy, bối cảnh quốc tế sẽ kém thuận lợi hơn. Tất cả các tổ chức quốc tế đều dự đoán năm 2026 sẽ có mức tăng trưởng kém hơn một chút so với năm 2025”. Đọc thêm2026 : Bối cảnh quốc tế không thuận lợi cho mục tiêu tăng trưởng 10% của Việt Nam Mục tiêu tăng trưởng cũng có thể bị tác động vì thiệt hại do thiên tai, ô nhiễm môi trường. Theo Cục Quản lý đê điều và Phòng, chống thiên tai, năm 2025 đã đi vào lịch sử thiên tai Việt Nam với những kỷ lục chưa từng có ; thiệt hại kinh tế lên tới hơn 100.000 tỷ đồng (gần 4 tỷ đô la) - lớn nhất từ trước tới nay. Theo Kế hoạch Ứng phó thiên tai chung năm 2025, được Liên Hiệp Quốc xây dựng trên cơ sở hợp tác giữa chính phủ Việt Nam và các đối tác trong nước, quốc tế, khoảng 96,2 triệu đô la được huy động để đáp ứng nhu cầu nhân đạo, hỗ trợ cho người dân bị ảnh hưởng, đồng thời xây dựng lộ trình hướng tới khả năng phục hồi và thích ứng với biến đổi khí hậu trong dài hạn. Giải quyết ô nhiễm môi trường : Vấn đề cấp bách Một vấn đề khác là tình trạng ô nhiễm không khí ở Việt Nam, khiến khoảng 70.000 người chết. Để giảm bớt “thành tích” nhiều lần đứng đầu danh sách “đô thị ô nhiễm nhất thế giới”, thành phố Hà Nội triển khai lộ trình cấm xe chạy xăng dầu, bắt đầu trong vành đai 1 (trung tâm) Hà Nội, kể từ ngày 01/07/2026. Song song với biện pháp triệt để này, nhà quy hoạch đô thị Basile Hassan, trưởng dự án Moov’Hanoi, Cơ quan hỗ trợ Hợp tác quốc tế Vùng Paris tại Việt Nam - PRX-Vietnam, cho rằng cần phát triển, nâng cấp hệ thống giao thông công cộng để người dân có nhiều lựa chọn : “Mạng lưới giao thông công cộng hiện tại không đáp ứng được nhu cầu của người dân. Hà Nội có tàu điện nhưng lại không đủ, thậm chí còn không đi đến trung tâm thành phố. Trong bối cảnh người dân chủ yếu sử dụng xe máy, rất cạnh tranh về mặt thời gian, đi từ điểm A đến điểm B mà không phải thay đổi phương tiện, cho nên giao thông công cộng có vẻ kém cạnh tranh hơn vì mất thời gian hơn so với xe máy, phải nối chuyến, phải đi đến các bến. Vì vậy về mặt thời gian và hiệu quả, phương tiện công cộng kém hấp dẫn hơn xe máy, được ưa chuộng ở Hà Nội”. Đọc thêm“Xanh hóa” giao thông Hà Nội: Cần bỏ ôtô cá nhân thể hiện “thành đạt” và kết nối hệ thống công cộng Việt Nam đón gần 22 triệu lượt du khách nước ngoài Cho dù trải qua một năm thiên tai, nhiều di tích, công trình bị ngập trong mưa lũ, Việt Nam ghi nhận số lượng du khách nước ngoài kỷ lục, gần 22 triệu lượt. Mục tiêu đặt ra cho năm 2026 là thu hút 25 triệu du khách quốc tế. Ngoài việc chú trọng vào dịch vụ chăm sóc khách hàng, chi phí không quá đắt, thì kéo dài thời gian miễn thị thực đối với nhiều nước được cho là một yếu tố quan trọng, theo giải thích với RFI Tiếng Việt của ông Nguyễn Xuân Hải, giám đốc của La Palanche Voyages : “Bây giờ khi được 45 ngày, có thể người ta đến Việt Nam chỉ 15 ngày thôi, nhưng người ta có thể tiến, lùi ngày để có được vé máy bay tốt hơn, phù hợp với khả năng chi trả của người ta hơn. Miễn visa 45 ngày là cả một bước đột phá lớn (...) Nay có đến 45 ngày miễn visa, giống như là chúng ta đang “thừa giấy vẽ voi”. Chúng tôi sẽ có thể vẽ ra những con voi rất sinh động, đưa được khách đến những vùng xa hơn, sâu hơn, đến những nơi mà theo chúng tôi còn nguyên bản hơn”. Đọc thêmDu lịch Việt Nam: Đà phục hồi bị ảnh hưởng bởi yếu tố kinh tế, địa chính trị
Biến tàu hỏa thành trải nghiệm du lịch văn hóa sang trọng ở Việt Nam
22.12.2025
“Đi tàu từ Nam ra Bắc giúp tôi khám phá sự đa dạng của Việt Nam. Kỷ niệm của tôi về tàu hỏa ở Việt Nam, đó là một phương tiện di chuyển thực sự chậm, nhưng không hề lãng phí thời gian vì tàu thường chạy đêm, sáng mai thức dậy là nhìn thấy cả đồng lúa xanh rì bên ngoài cửa sổ…”. Từ phương tiện giao thông chậm, rẻ hơn máy bay, tàu hỏa đang được phát triển thành cách du lịch chậm, tham quan ngay từ khung cửa sổ. Những cảm nhận trên là của Jean-Marc De Jaeger, phóng viên chuyên mục du lịch của nhật báo Pháp Le Figaro khi trả lời RFI Tiếng Việt. Ông là tác giả cuốn Đi tàu hỏa ở Châu Á: 22 Hành trình trên Đường ray (En train En Asie : 22 itinéraires sur les rails, NXB Voyage Gallimard, 2025), trong đó có Việt Nam : Tại sao có Việt Nam trong lộ trình? Đối với tôi, việc này quan trọng vì đây là một quốc gia khá rộng lớn về mặt địa lý và dân số. Và đặc biệt, tuyến tàu Thống Nhất giống như huyết mạch của đất nước, dài hơn một nghìn km, kết nối các điểm đến chính của Việt Nam, trong 36 giờ. Cho nên trong một cuốn sách hướng dẫn về du lịch bằng tàu hỏa, không thể bó quả Việt Nam. Còn theo tạp chí du lịch Lonely Planet, tuyến đường sắt Bắc-Nam nằm trong số những tuyến đường sắt đẹp nhất thế giới năm 2025. Tàu hỏa ở Việt Nam chạy rất chậm, chỉ khoảng 50 km/giờ, chỉ có một đường, khổ cũ 1,43 mét, từ thời Pháp thuộc và tránh nhau tại các ga lớn. Tàu hỏa không phải là phương tiện để đi khi có công việc gấp, nhưng là “cứu cánh” cho những người say xe, sợ máy bay. Nhưng những năm gần đây, tàu hỏa đã được phát triển thành một dòng du lịch trải nghiệm sang trọng, đề cao dịch vụ cá nhân, “sống chậm”. Đây là một trong những mảng được định hướng để phát triển du lịch nghỉ dưỡng cao cấp ở Việt Nam. “Nhâm nhi thời gian trôi, có nghĩa là khi đi máy bay, thực sự là chẳng nhìn thấy gì nhiều. Ví dụ nếu bay từ Thành phố Hồ Chí Minh đến Hà Nội, chúng ta sẽ chỉ thấy sân bay khởi hành và sân bay đến, rồi ngắm được một chút quang cảnh ở độ cao 10.000 m, nhưng sẽ không thấy các chặng trung gian, sẽ không được hòa mình vào cuộc sống. Đi tàu có thể ngắm rõ quang cảnh vì tàu chạy khá chậm, khoảng 50 km/giờ, đặc biệt là ở phía bắc Đà Nẵng, nơi tàu chạy dọc bờ biển và quang cảnh đẹp một cách ấn tượng. Với tàu hỏa, chúng ta cũng được thoải mái ứng biến, có thể xuống ở một ga nhỏ, nơi không có sân bay, và tự do khám phá đất nước, gần gũi với thiên nhiên, với người dân hơn”. Độc đáo du lịch tàu hỏa Có khoảng 7 tuyến du lịch sang trọng đang được khai thác hoặc sắp được triển khai ở Việt Nam. Nổi tiếng nhất, có chí phí cao nhất (hơn 9.000 đô la) là tuyến SJourney xuyên Việt 8 ngày 7 đêm (Hà Nội - Ninh Binh - Quảng Bình - Huế - Đà Nẵng (Hội An) - Nha Trang - Mũi Né - TP Hồ Chí Minh). Đoàn tàu là khách sạn 5 sao di động, chỉ có 10 toa ngủ với 30 phòng ngủ và đón tối đa 60 khách, tập trung vào chăm sóc cá nhân và nghệ thuật ẩm thực. Từ phòng riêng, du khách có thể thấy phong cảnh lướt qua những ô cửa sổ lớn, từ những phố thị ồn ào, sôi động cho đến những vùng nông thôn yên bình, ruộng đồng thẳng cánh cò bay. Và mỗi sáng thực dậy lại là một địa điểm khác và bắt đầu chuyến tham quan những địa danh được xếp hạng di sản văn hóa thế giới. Không sử dụng SJourney, nhưng nhà báo Pháp Jean-Marc De Jaeger cũng dừng ở những chặng như vậy : “Đi tàu từ Nam ra Bắc đã giúp tôi khám phá sự đa dạng của Việt Nam : Thành phố Hồ Chí Minh là một thủ phủ kinh tế khá năng động và hiện đại, thành phố Đà Nẵng ven biển với thiên nhiên hùng vĩ, còn Hà Nội là một thành phố đậm chất văn hóa, khá truyền thống, và cách không xa đó lắm là những rặng núi ở Sapa (…). Ngày đầu tiên tới Việt Nam, tôi bắt tàu Violette Express ở thành phố Hồ Chí Minh (…). Những ngày đầu tiên tôi ở Việt Nam là trên tàu hỏa. Kỷ niệm đọng lại trong tôi rất đẹp. Tàu khá thoải mái, có rất nhiều khách du lịch. Tàu có hai hạng, giá vé chênh lệch nhau, có những toa tàu mà khách du lịch ưu tiên và những toa tàu mà người dân địa phương ưa thích”. Violette Express là loại hình toa tàu du lịch chất lượng cao, được gắn vào đoàn tàu quốc gia để phục vụ khách, giống như tàu đêm Hà Nội - Sapa của Victoria Express, Sapaly Express, le Vic Sapa Train hoặc Chapa Express, Hoa Phượng Đỏ với các toa VIP trên tuyến Hà Nội - Hải Phòng. Ngoài ra, còn có một số tuyến được khai thác riêng, như The Vietage nối Đà Nẵng - Quy Nhơn, được coi là khách sạn 5 sao di động với giá khoảng 450 đô la/chuyến. Hành trình được chọn đi qua những cung đường đẹp, một bên là biển, bên kia là cánh đồng và làng mạc. Đậm chất du lịch trải nghiệm hơn còn có tuyến La Reine dài 7 km nối Đà Lạt - Trại Mát, được công ty đường sắt Việt Nam khai thác, tàu du lịch Hà Nội 5 cửa ô nối Hà Nội - Từ Sơn (Bắc Ninh), Revolution Express : hai tiếng đi tàu từ Đà Nẵng đến Huế với đầu máy hơi nước của những năm 1960… Điểm chung của những tuyến tàu du lịch này là dịch vụ, trải nghiệm văn hóa, truyền thống, kết hợp tiện nghi của hiện đại với vẻ đẹp của kiến trúc Đông Dương để tạo nên nét tinh tế, sang trọng và rất lịch sử. Đây là “chìa khóa để tạo nên những tour trọn gói, đẳng cấp” và là “chiến lược nhằm khai thác nhóm đối tượng khách hàng sẵn sàng chi trả cho những dịch vụ chất lượng vượt trội” trong phân khúc du lịch bằng tàu hỏa, theo báo Nhân Dân ngày 03/06/2025. Phó Cục trưởng Du lịch Quốc gia Việt Nam Phạm Văn Thủy, được trang Nhân Dân trích dẫn, cho rằng những chuyến tàu không chỉ kết nối địa lý mà còn kết nối trải nghiệm, góp phần thúc đẩy và lan tỏa giá trị vùng miền đến đông đảo du khách trong và ngoài nước theo cách độc lạ, góp phần mở đầu cho một hình thức tour tuyến mới trong việc phát triển du lịch Việt Nam trong nhiều năm tới. Nhật ký ảnh hành trình du lịch bằng tàu hỏa ở Việt Nam Nhà báo Jean-Marc De Jaeger truyền tải kinh nghiệm du lịch tàu hỏa ở Việt Nam qua dạng nhật ký hành trình với những hướng dẫn thực tế và thông tin lịch sử, văn hóa những địa danh ông đi qua. “Đây là một cuốn sách minh họa, có nhiều hình ảnh, có cả phố Đường tàu nổi tiếng ở Hà Nội, giới thiệu một số địa điểm không thể bỏ qua khi tới Việt Nam. Đây là một câu chuyện, một hành trình, nên tôi tìm cách nói với độc giả, kiểu : “Nào, hãy theo tôi, lên tàu cùng tôi, khám phá địa danh này, địa danh kia”. Tôi nghĩ thông qua hành trình này mà tôi kích thích được độc giả khám phá đất nước bằng tàu hỏa. Trong số những địa điểm tôi ở lại vài ngày có Đà Nẵng, thành phố mà tôi rất thích vì có bờ biển xung quanh, thiên nhiên hùng vĩ, rất nhiều di tích tôn giáo. Và đặc biệt Đà Nẵng là trung tâm đường sắt của Việt Nam, có nghĩa là có những chuyến Bắc-Nam, hoặc có những chuyến đến Đà Nẵng rồi quay đầu. Tiếc là không có tàu đi từ Đà Nẵng đến Hội An, mà phải đi taxi hoặc xe buýt thêm gần một tiếng. Qua đó cũng thấy rằng từ ga tàu, có thể tỏa đi các địa điểm xung quanh bằng taxi hoặc phương tiện giao thông công cộng”. Cuốn sách không chỉ là những hướng dẫn mà cũng là nơi chia sẻ cảm xúc, cảm nhận của tác giả về hành trình. Mỗi thành phố, mỗi địa danh đã được Jean-Marc De Jaeger nghiên cứu và tìm tài liệu tỉ mỉ từ trước đó, tham khảo ý kiến những người biết rõ về Việt Nam. Và nếu có nhiều thời gian hơn, Jean-Marc De Jaeger nói là “có thể truyền đạt nhiều hơn trong sách. Nhưng chắc cũng không đủ chỗ mà sẽ phải làm một hướng dẫn riêng”. Một điểm nữa được nhà báo của tờ Le Figaro nhấn mạnh đó là đi tàu làm nảy sinh những mối liên hệ, kết nối, là cách hay nhất để hiểu được phần nào cuộc sống của người dân địa phương : “Khi ở trên tàu, tôi được tiếp xúc với người dân địa phương, mặc dù không phải ai cũng nói được tiếng Anh. Nhưng tôi vẫn có thể thấy một chút về lối sống, thói quen ăn uống trên tàu, cách mọi người di chuyển trong một hành trình dài như vậy. Đó là cách trải nghiệm rất hay. Tàu hỏa là cách tìm hiểu và gần gũi với người dân địa phương, để biết thêm một chút về cuộc sống hàng ngày của họ. Hành trình từ Thành phố Hồ Chí Minh đến Đà Nẵng có vẻ dài, mất 16 hoặc 17 tiếng, nhưng tôi không để ý thời gian trôi qua vì tàu rất thoải mái, có nhiều dịch vụ. Hơn nữa, tôi thực sự đánh giá cao lòng hiếu khách của đội ngũ nhân viên trên tàu, những người rất tận tâm với hành khách. Bữa sáng được tính trong vé. Khách luôn có thể yêu cầu đồ ăn bất cứ lúc nào ban ngày hay ban đêm. Vì vậy, đây là một phương tiện di chuyển khiến bạn cảm thấy như là ở nhà. Trong khoang tàu, ban đầu có thể là những người không quen biết, nhưng sau đó cũng có thể bắt chuyện rất dễ dàng”. Du lịch bằng tàu hỏa xa xỉ có thể sẽ phát triển hơn nữa trong thời gian tới. Công ty Belmond, trực thuộc tập đoàn LVMH (Moët Hennessy Louis Vuitton), đã ký thỏa thuận khung với Tổng công ty Đường sắt Việt Nam để thực hiện đề xuất đưa 10 toa tàu cổ của Eastern & Oriental Express đến Việt Nam, phục vụ khách du lịch giữa Hà Nội-Thành phố Hồ Chí Minh. Tập đoàn Belmond khai thác các đoàn tàu du lịch nổi tiếng Venice-Simplon Orient Express, Royal Scotsman và Andean Explore. Tuy nhiên, kể từ khi được bộ Giao thông Vận tải Việt Nam “bật đèn xanh” vào tháng 03/2024, không có thêm thông tin nào về dự án này.
Việt Nam: Đồng bằng sông Cửu Long tìm giải pháp cho tình trạng ngập úng
15.12.2025
Theo các chuyên gia, vùng Đồng bằng sông Cửu Long đang đối mặt với nhiều nguy cơ với các hiện tượng triều cường, sụt lún và sạt lở đồng loạt gia tăng. Không chỉ gây ngập úng diện rộng, các hiện tượng này còn làm suy yếu hệ thống đê bao, có thể dẫn đến những sự cố nghiêm trọng nếu không có giải pháp ứng phó kịp thời. Theo báo chí trong nước, trong những ngày đầu tháng 10 âm lịch vừa qua, nhiều khu vực ở Đồng Tháp liên tục ngập sâu do triều cường lên mức cao nhất từ đầu năm. Triều cường mạnh cũng có nguy cơ làm vỡ đê. Cùng thời điểm, Viện Khoa học Thủy lợi Miền Nam (VAWR) cảnh báo nhiều khu vực trong vùng có khả năng tiếp tục bị ngập úng do kết hợp giữa triều cường, mưa trái mùa và dòng chảy yếu từ thượng nguồn. Trả lời phỏng vấn RFI Việt ngữ ngày 12/12/2025, tiến sĩ Dương Văn Ni, Khoa Môi trường và Quản lý tài nguyên thiên nhiên, Đại học Cần Thơ và là chủ tịch Quỹ bảo tồn Mekong MCF, giải thích: "Nói về ngập, chúng ta phân biệt ba thông số. Thứ nhất là diện tích ngập, thứ hai là độ sâu ngập và thứ ba là thời gian ngập. Ví dụ các tỉnh ven phía Biển Đông như Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu chịu ảnh hưởng của chế độ bán nhật triều, thành thử khi bị ngập thì sẽ ngập rất nhanh, nhưng mà rút rất là lẹ, tại vì một ngày một đêm có tới hai lần nước ròng, hai lần nước kém. Các tỉnh khác như Kiên Giang, Cà Mau thì lại bị ảnh hưởng chế độ nhật triều, ngập thì cũng ngập nhanh, nhưng lại rút rất chậm, bởi vì một ngày một đêm chỉ có một lần nước ròng thôi. Những tỉnh đầu nguồn như Đồng Tháp, An Giang thì lại ít bị ảnh hưởng bởi chế độ thủy triều từ Biển Đông, mà bị ảnh hưởng hoàn toàn bởi lượng nước đổ về của sông Mekong và lượng mưa tại chỗ. Ở những nơi đây có mùa nước mà người ta hay gọi là mùa nước nổi, khoảng giữa rằm tháng 7 thì nước dâng lên từ từ nhưng lại kéo dài cho tới khoảng cuối tháng 9 âm lịch thì nước mới bắt đầu rút được. Còn những tỉnh nằm giữa như Hậu Giang, Cần Thơ, Vĩnh Long, Tiền Giang thì lại bị ảnh hưởng bởi hai phần. Một phần là các tỉnh phía thượng nguồn như Đồng Tháp, An Giang và một phần khác là các tỉnh ven biển như Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu... Nếu xảy ra ngập lụt ở Cần Thơ và nếu các tỉnh phía bên trên như Đồng Tháp, An Giang không có nước đổ về tiếp tục và trong khi đó phía Sóc Trăng và Trà Vinh không bị ngập, thì Cần Thơ bị ngập không đáng kể, có nghĩa là ngập, nhưng sau đó nước sẽ rút rất nhanh. Nhưng ngược lại, nếu các tỉnh ven biển như Trà Vinh, Sóc Trăng cũng bị ngập và cộng thêm các tỉnh đầu nguồn như Đồng Tháp, An Giang lại ngập nữa, thì lúc bây giờ các tỉnh phía giữa như Vĩnh Long và Cần Thơ sẽ ngập rất sâu. Khi muốn đánh giá ngập ở một chỗ nào thì có rất nhiều nguyên nhân, chứ không đơn thuần một hai nguyên nhân. Và bản chất của chuyện ngập là hoàn toàn khác nhau giữa tỉnh này với tỉnh khác. Nó không chịu một ảnh hưởng nguyên nhân chung, mà mỗi tỉnh có một nguyên nhân riêng. Thậm chí những địa phương trong cùng một tỉnh cũng có những nguyên nhân ngập khác nhau. Và điều đó tác động lên ba thông số mà tôi vừa trình bày: Diện tích ngập, độ sâu ngập và thời gian ngập." Tình trạng sụt lún Không chỉ đối mặt với ngập úng, vùng Đồng bằng sông Cửu Long còn đang chịu tác động của sụt lún đất và sạt lở bờ sông, bờ biển. Mưa lớn, dòng chảy thay đổi và tác động của triều cường khiến các điểm sạt lở xuất hiện với tần suất dày hơn. Tại một số khu vực, sạt lở đã ăn sâu vào sát chân đê, làm tăng nguy cơ mất an toàn cho cả tuyến đê lẫn người dân sinh sống ven sông. Phân tích của các chuyên gia VAWR cho thấy việc khai thác nước ngầm kéo dài đã khiến nền đất hạ thấp. Khi nền đất lún xuống, mực nước vốn chỉ ngang bờ kênh nay có thể gây ngập ngay cả khi triều không quá cao. Theo phân tích của tiến sĩ Dương Văn Ni, có rất nhiều nguyên nhân giải thích tình trạng sụt lún của đồng bằng sông Cửu Long: "Đồng bằng chúng ta là một vùng đất non trẻ, trước khi hình thành chỉ là những bãi bùn rất là nhão. Sau đó đất bắt đầu dần dần săn chắc và như vậy có một quá trình gọi là 'sụt lún tự nhiên'. Hiện tượng này khác nhau ở từng vùng. Do điều kiện địa chất, có những nơi thì sụt lún tự nhiên khoảng chừng 5 cm, có những nơi thì chỉ sụt một vài cm thôi. Nó hoàn toàn lệ thuộc vào cấu tạo địa chất của lớp trầm tích nằm bên dưới. Nhưng một nguyên nhân thứ hai đó là do chúng ta khai thác nước ngầm. Mà lý do căn bản của chuyện khai thác nước ngầm không phải là người ta thiếu nước ngọt mà là thiếu nước có đủ chất lượng để mà sản xuất và sinh hoạt. Bấy lâu nay chúng ta thâm canh, chúng ta đã sử dụng quá nhiều phân bón, thuốc trừ sâu và như vậy tạo ra một lượng dư thừa đổ xuống sông rạch và làm ô nhiễm nước mặt. Đặc biệt là trong quá trình xây đê điều, cống đập để ngăn mặn, ngăn lũ, điều tiết nước thì chúng ta cản trở dòng chảy rất là lớn. Do đó bây giờ gần như người dân nông thôn không còn uống nước dưới sông nữa, hoặc là không còn sinh hoạt, tắm giặt dưới sông nữa, bởi vì người ta sợ ô nhiễm. Và chính vì sợ ô nhiễm như vậy, người ta phải khoan rất nhiều giếng để lấy nước ngầm lên xài. Nghiêm trọng hơn là ở những vùng ven biển, khi người ta nuôi tôm thì người ta cần những độ mặn thích hợp cho quá trình con tôm tăng trưởng. Thành thử người ta phải cần rất nhiều nước ngọt pha loãng với nước mặn để có độ mặn lý tưởng. Và người ta sử dụng một lượng nước ngầm vô cùng lớn không phải chỉ để sinh hoạt, mà cho cả sản xuất, góp phần rất đáng kể vào chuyện làm sụt lún mặt đất. Và nguyên nhân cuối cùng là các công trình xây dựng của chúng ta càng ngày càng dày đặc. Những thành phố ngày xưa chỉ là những nhà thấp thì bây giờ xuất hiện rất nhiều nhà cao tầng, thậm chí những nhà cao tầng đó tập trung rất dày đặc. Với trọng lượng rất là lớn trên mặt đất như vậy nó ép xuống và như vậy cũng sẽ làm tăng mức độ sụt lún chung cho cả vùng. Bao nhiêu năm nay khi nói là nước biển dâng, biến đổi khí hậu, nhưng mà nước biển chỉ dâng chừng vài mm trong vòng 1, 2 năm, trong khi tốc độ sụt lún của chúng ta tới mấy chục mm trong vòng 1 năm.Và như vậy chúng ta thấy là thiên tai đến chậm, nhưng nhân tai đến nhanh hơn!" Sống chung với lũ Theo tiến sĩ Dương Văn Ni, trước viễn cảnh đồng bằng sông Cửu Long sẽ tiếp tục ngập úng diện rộng trong thời gian dài, thay vì chế ngự nguồn nước bằng đê điều như vẫn làm từ trước đến nay, chính quyền địa phương nên giúp cho người dân ở vùng này học cách sống chung với lũ: "Những năm gần đây, chúng ta thấy rõ ràng ngay cả trong các văn bản của nhà nước cũng không còn mạnh dạn nói chuyện chống hạn, chống mặn, chống lũ nữa, mà đang dần dần khuyến khích người dân sống chung với lũ, sống chung với mặn. Thách thức hiện nay đó là nhiều khi giải pháp sống chung đó chưa được phát triển một cách đầy đủ. Và như vậy người dân và các cấp chính quyền ở địa phương khá lúng túng khi áp dụng những mô hình cụ thể vào cuộc sống hàng ngày. Ở những tỉnh đầu nguồn như An Giang, Đồng Tháp vài chục năm trước người ta bao những đê triệt để, không cho nước lũ tràn vào trong mùa mưa, để người ta thâm canh lúa vụ ba nhằm tăng sản lượng lúa. Nhưng sau hàng chục năm sử dụng mô hình đó, bây giờ người ta đã thấy một điều rất rõ là ở những vùng đó gần như đất bị kiệt quệ về dinh dưỡng và người sản xuất phải bón phân ngày càng nhiều. Năng suất lúa thì không tăng bao nhiêu nhưng lượng phân bón phải tăng lên rất cao, do đó lợi nhuận của sản xuất lúa vụ ba này gần như không còn. Người dân ý thức được chuyện đó, chính quyền địa phương và mọi người ý thức được chuyện đó, nhưng bây giờ muốn xả nước trở lại để lấy phù sa, để lấy dinh dưỡng trở lại tự nhiên cho đất, thì đó là một vấn đề không dễ. Trong hàng chục năm qua, vì chúng ta đã giữ mực nước thấp như vậy, thành thử nhà cửa, chuồng trại, vườn tược, thậm chí mồ mả cũng xây thấp lè tè bằng với mực nước. Bây giờ nếu xả nước trở lại thì tất cả những công trình này sẽ bị chìm ngập hết. Và như vậy người dân không đồng thuận mặc dù người ta ý thức rất rõ là bây giờ phải xả nước trở lại để cho đất đai nó màu mỡ trở lại. Chúng ta cũng phải đi từng bước chứ không thể một ngày một buổi mà có giải pháp tổng thể được. Thứ nhất, phải chuyển đổi cách sử dụng đất làm thế nào để bảo đảm được thu nhập cho người dân ổn định hàng tháng, hàng năm chuyển đổi từ sinh kế không lệ thuộc vào nguồn nước sang thích nghi tốt với những nguồn nước. Khi chuyển đổi được những sinh kế cho bà con ở một vùng nào đó rồi đó thì bước tiếp theo là phải lần lần rút người dân ra khỏi những vùng không thuận lợi cho phát triển nông nghiệp nữa, ví dụ như những vùng bưng biền mà ngày xưa nó ngập rất lâu, khi mùa nước tới là nước nó ngập ba bốn mét. Những vùng này trong bao nhiêu năm qua chúng ta bao đê khô triệt để cho người dân sống trong đó, nhưng mà người ta sống với một tâm thế rất là phập phồng rủi ro, không biết đê bao bị vỡ gây ngập lụt bất cứ lúc nào, tài sản người ta xây dựng hàng chục năm có thể đổ sông đổ biển trong vòng một vài tiếng đồng hồ. Thứ ba là chúng ta cũng phải định hình lại chiến lược phát triển tổng thể của Đồng bằng sông Cửu Long và chiến lược đó phải phân khu vực. Những nơi nào mà bắt buộc chúng ta phải không cho nước nó ngập bất cứ lúc nào, thì những khu đó, với khoa học công nghệ hiện đại, chúng ta hoàn toàn có đủ khả năng kiểm soát hoàn toàn mực nước, để không có chuyện ngập tràn lan. Dĩ nhiên là những khu này phải tương xứng với cái trình độ phát triển và phải đóng góp rất lớn cho nền kinh tế của cả khu vực. Bởi vì đầu tư cho những khu vực này là vô cùng tốn kém và quản lý những khu này lại càng tốn kém hơn nữa. Đó là những khu vực đặc biệt phải ưu tiên, ví dụ như những khu công nghiệp, những nơi có những công trình phúc lợi công cộng như trường học, bệnh viện... Còn lại những khu vực không đóng góp thực sự lớn cho nền kinh tế thì chúng ta phải xem xét từng bước trả nó trở về với thiên nhiên. Khi chúng ta làm được điều đó đó thì tự bản thân cộng đồng đã thích nghi được rồi. Kinh nghiệm của Hà Lan Tiến sĩ Dương Văn Ni nêu ví dụ của Hà Lan, một quốc gia có giàu kinh nghiệm sống với nước, đồng thời có trình độ khoa học kỹ thuật rất cao trong việc xây dựng các đê điều và quản lý đê điều. Tuy nhiên, những năm sau này, họ thấy là cần thấy phải trả lại không gian cho dòng sông, cho nên họ đưa ra một chương trình rất lớn gọi là 'room for the river': Trong những năm mà mưa thuận gió hòa thì người ta vẫn canh tác được trên những vùng đất đó. Nhưng những năm nào mà dự đoán là thời tiết cực đoan, hay có thể xảy ra nước ngập nghiêm trọng, thì những vùng đó được cảnh báo và người ta không canh tác trong vùng đó. Vùng đó trở thành không gian để người ta chứa nước dư thừa của dòng sông. Theo tiến sĩ Dương Văn Ni, có thể áp dụng kinh nghiệm của Hà Lan cho đồng bằng sông Cửu Long : "Ở đồng bằng sông Cửu Long thật ra có hai vùng rất lớn. Một vùng là ở Tứ Giác Long Xuyên của các tỉnh như Kiên Giang và An Giang. Vùng thứ hai là vùng Đồng Tháp Mười của các tỉnh Đồng Tháp, Long An và Tiền Giang. Hai vùng này, trong tự nhiên có thể trữ được khoảng 8 đến 9 tỷ mét khối nước trong mùa mưa. Với khả năng trữ một lượng nước khổng lồ như vậy, chúng ta hoàn toàn không phải lo chuyện ngập úng của những vùng bên dưới. Mấy năm gần đây chúng ta đã biến những vùng này thành những vùng thâm canh nông nghiệp và như vậy là toàn bộ lượng nước thay vì có một không gian để tràn thì bây giờ phải tràn xuống những vùng bên dưới, gây ra ngập lụt thường xuyên, đặc biệt là ngập lụt ở những thành phố mà trong lịch sử chưa từng bị ngập, như Cần Thơ chẳng hạn. Khái niệm 'room for the river' đối với Hà Lan thì dễ làm hơn là vì cộng đồng của họ thưa thớt, họ dễ quy hoạch, dễ tính toán. Còn hiện nay những vùng như Đồng Tháp Mười hoặc Tứ Giác Long Xuyên của chúng ta thì đã có hàng triệu người dân sinh sống và đã ổn định nhà cửa cũng như vườn tược, chuồng trại. Và như vậy việc sử dụng hai vùng này mà tôi gọi là 'room for the delta' là một thách thức rất lớn, cần một nỗ lực rất lớn của toàn xã hội." "