Tạp chí Việt Nam
Neueste Episode
92 Episoden
- Theo các số liệu chính thức, chỉ trong 8 tháng đầu năm nay (2026), Việt Nam đã tiếp đón gần 16 triệu du khách quốc tế, tăng 14,4 % so với cùng kỳ năm ngoái. Ngành du lịch Việt Nam còn có tham vọng sẽ tiếp đón tổng cộng 25 triệu du khách trong năm nay.
Thế nhưng, khi trao đổi với RFI Việt ngữ, một số doanh nghiệp tham gia Hội chợ du lịch quốc tế IFTM Top Resa tại Paris ( 15-17/09/2026 ) đều than phiền là số khách của họ, ít ra là từ châu Âu, vẫn chưa tăng trở lại như trước đây, phần lớn là do tác động của chiến tranh Trung Đông.
Trả lời RFI Việt ngữ tại hội chợ IFTM Top Resa, cô Đào Thị Thùy Linh, giám đốc công ty Asia Viva Travel, được thành lập năm 2019, chủ yếu phục cho du khách châu Âu ( Pháp,Ý, Tây Ban Nha, Bắc Âu…) , cho biết:
“Con số của Nhà nước là con số ghi nhận khi nhập cảnh và xuất cảnh. Thực tế con số tại các doanh nghiệp thì có một sự sụt giảm, như tại công ty Asia Viva Travel. Chúng tôi có ghi nhận sự sụt giảm nghiêm trọng vào khoảng tháng 2 và tháng 3, thậm chí là tháng 5, tháng 6. Tuy nhiên, từ cuối tháng 6 đến tháng 9/2026, chúng tôi đã ghi nhận sự sôi động trở lại của những giao dịch từ những đơn vị đã chốt đơn cho cuối năm nay và năm sau.
Thẳng thắn mà nói thì vẫn còn những sụt giảm và vắng vẻ hơn. Khách có xu hướng sẽ chốt sát nút hơn so với trước đây. Trước đây họ có thể chốt từ 3 đến 6 tháng trước, nhưng bây giờ họ có thể chốt tháng trước, tháng sau. Thời gian họ quyết định sẽ sát hơn, tùy thuộc vào chuyến bay, rồi sẽ nhìn vào tình hình quốc tế xem có ổn định chưa thì họ mới quyết định có chốt đi hay không.
Với khoảng 30, 40 nhân sự khối văn phòng, với các anh chị em hướng dẫn viên, hay những bà con làm ở tuyến điểm, hoặc là chèo đò, lái xe, tôi nghĩ rằng đó là một sự thách thức đối với cả tất cả chúng tôi. Bởi vì tính chất và số lượng tour giảm, thậm chí khách cũng chọn lựa những phương thức tiết kiệm hơn, hoặc là họ dùng AI để có thể tự liên hệ, dẫn đến sụt giảm về việc làm, sụt giảm về kinh doanh. Có thể họ hỏi rất là nhiều, nhưng tỷ lệ chốt đơn lại giảm. Đó là một trong những thách thức để chúng tôi duy trì và vận hành doanh nghiệp của chúng tôi.
Về phần mình, ông Edouard Georges, chủ tịch công ty lữ hành Phoenix Voyages, giải thích:
“Chiến tranh Iran đã tác động rõ rệt đến lượng khách đến Việt Nam: Các hãng hàng không vùng Vịnh đã tạm ngưng hoặc cắt giảm chuyến bay, dẫn đến việc lượng du khách châu Âu đến Việt Nam sụt giảm đáng kể. Mọi người cảm thấy lo lắng, bất an khi phải quá cảnh tại Doha, Dubai hay các thành phố khác ở vùng Vịnh để nối chuyến đến Việt Nam. Tình trạng sụt giảm lượng khách này đang ảnh hưởng đến toàn khu vực, bao gồm cả Việt Nam, Cam Bốt và Thái Lan. Chúng tôi đã phải gánh chịu hậu quả từ tháng Hai hoặc tháng Ba. Đến nay, tình hình vẫn chưa thực sự khả quan hơn.Tôi nghĩ tình trạng này sẽ còn kéo dài thêm một thời gian nữa, mặc dù lịch bay đang dần ổn định và chúng tôi kỳ vọng sẽ sớm thấy lại tần suất hai hoặc ba chuyến mỗi ngày, thay vì chỉ một chuyến như hiện nay, đến Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh chẳng hạn.
Có hai yếu tố tác động ở đây, gồm bối cảnh quốc tế, nhưng cũng cần kể đến yếu tố giá cả. Giá vé máy bay đã tăng mạnh, dù là các chuyến bay thẳng của Vietnam Airlines, hay của các hãng như Singapore Airlines, Thai Airways hoặc Cathay Pacific. Giá vé rất cao, gần như tăng gấp đôi và tất nhiên, trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế, du khách không còn đủ khả năng chi trả cho những chuyến đi xa như vậy. Thay vào đó, họ chỉ đi du lịch trong phạm vi châu Âu hoặc khu vực Địa Trung Hải, như Maroc, Ai Cập hay Hy Lạp, những điểm đến vẫn phù hợp với ngân sách du lịch của họ, dù giá cả tại đó cũng đã tăng lên.”
Tuy nhiên, cô Đào Thị Thùy Linh, giám đốc công ty Asia Viva Travel, tỏ vẻ tin tưởng Việt Nam vẫn là điểm đến hấp dẫn đối với khách quốc tế:
“Với những chính sách và với những nỗ lực từ chính phủ, từ những doanh nghiệp Việt Nam, hay với những sự kiện để quảng bá và phát triển hơn du lịch của Việt Nam đối với các đối tác trên toàn cầu có mặt tại Top Resa 2026, tôi rất tin tưởng. Qua trao đổi, làm việc và thậm chí là trao đổi rất sâu với một số đối tác thân thiết, họ cũng chia sẻ rằng Việt Nam là một điểm đến mới nổi và rất đa dạng về văn hóa, về ẩm thực, về mọi mặt, với một mức chi phí rất là hợp lý, trong bối cảnh toàn cầu nói chung gặp khó khăn như thế này.
Ở Việt Nam bây giờ chúng tôi rất tự hào, vì sản phẩm rất đa dạng ở góc độ nghỉ dưỡng, du lịch y tế, thiền, yoga, trekking hay adventure, khám phá, mọi thứ đều có thể gói gọn ở hai chữ “Việt Nam”. Tôi tin đó là một cơ hội rất lớn và rộng mở cho tương lai của chúng tôi.”
Tuy nhiên, ông Edouard Geroges, giám đốc công ty Phoenix Voyages lưu ý:
"Tôi cho rằng Việt Nam mắc phải một sai lầm cơ bản, đó là mong muốn đón hàng triệu lượt khách du lịch. Tốt hơn hết là nên chọn lọc kỹ lưỡng hơn và đón ít khách hơn, những khách sẵn sàng chi tiêu nhiều hơn và lưu trú lâu hơn. Chúng ta cần tập trung thu hút những du khách chất lượng cao với thời gian lưu trú dài ngày, thay vì chỉ chạy theo các con số thống kê, tự hào về việc đón 25, 26 hay 30 triệu lượt khách. Xét cho cùng, những con số đó không mang nhiều ý nghĩa. Đó là sự hiểu lầm lớn về du lịch: số lượng đơn thuần không phải là yếu tố quan trọng nhất. Điều thực sự quan trọng là thời gian lưu trú và mức chi tiêu của du khách."
Cho dù số khách quốc tế đến Việt Nam đang dần tăng trở lại, theo ông Edouard Georges, ngành du lịch Việt Nam cần tạo ra nhiều sản phẩm hơn để giữ chân du khách lâu hơn:
“Mọi thứ đang dần thay đổi, nhưng chúng ta cần củng cố các sản phẩm và dịch vụ, cải thiện công tác truyền thông và, quan trọng nhất, là quảng bá du lịch Việt Nam theo ba vùng riêng biệt. Chúng ta cần quảng bá miền Bắc vào đúng mùa, làm nổi bật các cơ hội du lịch sinh thái tại đây. Chúng ta cũng cần quảng bá miền Trung, với những bãi biển tuyệt đẹp, vào thời điểm thích hợp, và cả miền Nam, có thể tập trung vào Đồng bằng sông Cửu Long cùng các hành trình đường sông, thậm chí mở rộng sang Cam Bốt. Thông qua quan hệ hợp tác với các nước láng giềng, chẳng hạn, miền Bắc có thể kết hợp rất tốt với Lào trong cùng một mùa du lịch.
Chúng ta cần tạo ra nhiều sản phẩm hơn nữa để khuyến khích du khách quay trở lại Việt Nam. Bạn có thể dành 15 ngày ở miền Bắc để thăm các cộng đồng dân tộc thiểu số, một trải nghiệm vô cùng đặc biệt, hay ngắm nhìn Vịnh Hạ Long, phải ở lại ba đêm để khám phá trọn vẹn vẻ đẹp phong phú của khu vực này, thong thả tản bộ, đọc sách và chiêm ngưỡng cảnh quan. Hiện nay, du khách thường di chuyển qua Việt Nam quá nhanh. Chúng ta cần chuyển hướng sang mô hình du lịch "chậm", khuyến khích khách hàng và du khách lưu trú lâu hơn cũng như quay trở lại một, hai, ba, thậm chí bốn lần để thực sự củng cố lượng khách du lịch.”
Vấn đề là ngành du lịch Việt Nam lại đang đối mặt với tình trạng thiếu hụt trầm trọng cả về số lượng lẫn chất lượng, đặc biệt trong các mùa cao điểm. Theo kết quả khảo sát của Hoteljob.vn (nền tảng tuyển dụng nhân sự hàng đầu trong ngành khách sạn và du lịch Việt Nam), gần 90% doanh nghiệp du lịch cho biết đang có nhu cầu tuyển dụng hoặc thiếu nhân sự. Thường xuyên thiếu nhân lực là trong lĩnh vực lưu trú, như nhân viên lễ tân, nhân viên buồng phòng, đầu bếp và nhân viên phục vụ trực tiếp.
Cô Đào Thị Thùy Linh, giám đốc công ty Asia Viva Travel ghi nhận:
“Sau Covid xong thì có rất nhiều người đổi nghề. Có thể họ đã làm quá lâu trong mảng du lịch nên họ muốn trải nghiệm sang một cái mảng mới. Anh em vẫn nói vui trong nghề rằng du lịch là một công việc "tuy vất vả mà được cái nghèo"! Nói vui thế thôi nhưng tôi nghĩ đó là một công việc thú vị.
Chỉ có là khi mà lượng được đẩy lên quá cao, khi mà con số của năm 2025 là khoảng 21 triệu và chỉ tiêu đề ra cho năm 2026 là 25 triệu, thì nhân sự sẽ phải tăng lên để có thể đủ đáp ứng được những nhu cầu mới, khách hàng mới, những đối tác mới. Theo tôi, đó cũng là một trong các thách thức Việt Nam sẽ phải đối diện và phải cân bằng trong thời gian tới.
Sự thành công của một tour được quyết định rất nhiều bởi năng lực của guide ( hướng dẫn viên ). Theo tôi đánh giá, với nhu cầu của khách hàng như thế, ở Việt Nam đang bị thiếu một chút về những guide ngôn ngữ hiếm, như tiếng Pháp, tiếng Ý, tiếng Tây Ban Nha, thậm chí tiếng Đức… Đó là một trong những điểm mà tôi thấy sẽ cần một sự phối hợp liên ngành từ chính phủ, từ các trường hay từ bộ Giáo Dục để gia tăng đào tạo, hoặc là có thể áp dụng công nghệ nhiều hơn để tăng cường khả năng phục vụ khách hàng đến với Việt Nam.”
Về vấn đề này, ông Edouard Georges, chủ tịch công ty lữ hành Phoenix Voyages nêu ý kiến:
“Việt Nam vẫn sở hữu nguồn nhân lực dồi dào với dân số hơn 100 triệu người. Tuy nhiên, các công việc trong ngành du lịch và khách sạn không thu hút nhiều người, đó cũng là một xu hướng chung trên toàn cầu. Những công việc này thường có mức lương thấp và đòi hỏi thời gian làm việc dài, vì vậy giới trẻ thường hướng đến các lĩnh vực công nghệ cao hoặc công nghệ thông tin, với mong muốn làm ít hơn mà thu nhập lại cao hơn. Ngoài ra còn có tình trạng thiếu hụt nhân sự chất lượng cao, cụ thể là những hướng dẫn viên xuất sắc, vừa giỏi ngoại ngữ vừa có kiến thức sâu rộng về văn hóa và lịch sử đất nước.
Tôi cho rằng vai trò của hướng dẫn viên đang trải qua một cuộc chuyển đổi toàn diện. Nhờ có công nghệ, như mạng wifi phủ sóng khắp nơi, Google và trí tuệ nhân tạo, khách hàng có thể dễ dàng tiếp cận thông tin. Du khách hoàn toàn có thể tự mình tìm hiểu các chi tiết về mốc thời gian, các triều đại và những sự kiện lịch sử khác. Hệ quả là vai trò của hướng dẫn viên cần chuyển hướng sang việc hỗ trợ du lịch và cung cấp dịch vụ cá nhân hóa, thay vì duy trì phong cách truyền thống mang tính hàn lâm như chỉ liệt kê các triều đại Việt Nam hay ngày tháng của các trận đánh và cuộc chiến.
Chúng ta cần suy nghĩ lại về cách đào tạo hướng dẫn viên cũng như cách tiếp cận nghề nghiệp này. Chúng tôi đang phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chức năng để xây dựng những chương trình đào tạo mới, phù hợp với những thay đổi này, nhằm thu hút một thế hệ hướng dẫn viên mới. Các hướng dẫn viên kỳ cựu nói tiếng Pháp đang dần rời bỏ nghề. Tôi đã làm trong ngành 25 năm và biết rõ tất cả họ. Họ có bề dày kinh nghiệm, nhưng giờ đây phần lớn họ đã, hoặc sắp nghỉ hưu. Chúng ta cần chuyển giao thế hệ và đổi mới nghề này một chút.
Tuy nhiên, đây cũng là một vấn đề nan giải, vì hiện nay ít người còn hứng thú học các ngoại ngữ như tiếng Pháp, tiếng Tây Ban Nha hay tiếng Đức. Trước đây, chúng ta có những người Việt từng làm việc tại Cuba hay Đông Đức và nói tiếng Đức hoặc tiếng Tây Ban Nha rất giỏi. Giờ đây, những thế hệ đó đang dần nghỉ hưu. Một số người vẫn làm việc cầm chừng, nhưng không còn hoạt động tích cực trong nghề nữa. Vì vậy, chúng ta cần tìm kiếm những người trẻ có đam mê học ngoại ngữ.
Tuy nhiên, lại nảy sinh vấn đề về trí tuệ nhân tạo: Chỉ cần nói tiếng Việt vào micro là có thể dịch ngay sang tiếng Pháp hoặc tiếng Tây Ban Nha. Liệu điều này sẽ trở thành chuẩn mực hay chỉ là một xu hướng nhất thời? Dầu sao sự tương tác giữa người với người chắc chắn vẫn là một phần quan trọng khi đến thăm một quốc gia.” - Ngày 10/08/2026, Việt Nam đã khởi công đóng mới một tàu hộ vệ săn ngầm do trong nước thiết kế, mà một khi hoàn thành sau khoảng ba năm nữa sẽ là tàu chiến mặt nước lớn nhất của Hải quân Nhân dân Việt Nam (VPN). Tàu này, do Tổng công ty Sông Thu phối hợp Quân chủng Hải quân đóng mới, được mô tả là “tàu hộ vệ chống ngầm đa năng, sản phẩm tàu chiến lớn và hiện đại nhất từ trước đến nay do Việt Nam tự thiết kế, chế tạo”.
Truyền thông Nhà nước Việt Nam cho biết tàu hộ vệ “100% made in Vietnam”, hiện chưa được đặt tên, sẽ được trang bị radar mảng pha quét điện tử chủ động (AESA), tên lửa phòng không và tên lửa chống hạm tiên tiến do Tập đoàn Công nghiệp - Viễn thông Quân đội (Viettel) cùng các nhà máy quốc phòng liên kết với tập đoàn này tự nghiên cứu, chế tạo. Như loại tên lửa chống hạm trang bị cho tàu được cho là biến thể hải quân của dòng tên lửa VCM-01.
Cụ thể hơn, tàu hộ vệ mới này theo dự kiến sẽ được trang bị hệ thống vũ khí nào? Những vũ khí đó có hoàn toàn do Việt Nam sản xuất? Trả lời RFI Việt ngữ ngày 15/08/2026, tiến sĩ Nguyễn Thế Phương, chuyên về an ninh hàng hải và các vấn đề hải quân, Đại học New South Wales, Canberra, Úc, cho biết:
"Hiện tại vẫn chưa rõ là tàu hộ vệ săn ngầm đa năng mới này có lượng giãn nước bao nhiêu tấn. Nhìn vào hình ảnh cũng như những thông số vũ khí của tàu, các chuyên gia dự đoán lượng giãn nước của tàu này có thể từ khoảng 2.500 tới 3.000 tấn.
Cũng theo như hình ảnh được bộ Quốc Phòng Việt Nam công bố, tàu hộ vệ tầm 3.000 tấn này được trang bị thứ nhất là một khẩu pháo 76 ly AK-176. Khẩu pháo này sẽ làm nhiệm vụ bảo vệ tàu trước những mục tiêu ở gần. Ngoài ra, bởi vì đây là tàu săn ngầm, cho nên tàu sẽ được trang bị thứ nhất là hai rocket RBU-6000 làm nhiệm vụ chống tàu ngầm. Rocket này cũng đã được trang bị cho các tàu săn ngầm khác mà Việt Nam có trước đây.
Tàu cũng được trang bị hai ống phóng ngư lôi 533 ly, được đặt ở hai bên mạn tàu và tàu cũng có một cái sàn đáp cho trực thăng săn ngầm Ka-27, hiện đang trong biên chế của Hải quân Việt Nam. Đó là nhóm vũ khí săn ngầm chính. Ngoài ra, đặc biệt là tàu sẽ được trang bị một hệ thống phóng thẳng đứng gồm khoảng 12 bệ phóng thẳng đứng.
Theo giới chuyên gia quân sự, 12 ống phóng này được trang bị các loại tên lửa phòng không tầm ngắn, cũng do Viettel nghiên cứu phát triển. Ngoài ra, ở đầu và ở đuôi tàu sẽ được trang bị hai tên lửa vác vai phòng không tầm ngắn Igla, cũng là một sản phẩm do Việt Nam phát triển, thông qua những mẫu thiết kế của Nga. Ngoài ra, để chống drone hay tên lửa hành trình tiếp cận tầm gần, tàu cũng được trang bị hai khẩu pháo AK-630 30 ly.
Đối với chống tàu mặt nước, tàu được trang bị hai bệ 4 x 4 tên lửa hành trình chống tàu. Chắc chắn loại tên lửa được trang bị sẽ là họ tên lửa VCM-01 mà Viettel vừa phát triển và vừa công bố trong khoảng 2 - 3 năm trở lại đây. Mẫu tên lửa hành trình chống tàu này cũng dựa trên nguyên bản là mẫu Kh-35, tên lửa hành trình chống tàu của Nga.
Ngoài ra, một trong những công nghệ nổi bật là tàu được trang bị loại radar mảng quét điện tử AESA bốn mặt ở trên tháp pháo của tàu. Toàn bộ hệ thống radar này cũng như các radar dẫn bắn và các loại cảm biến trên tàu đều là sản phẩm của Viettel.
Giới quan sát rất quan tâm tới hệ thống radar và những loại thiết bị vũ khí, đặc biệt là các loại vũ khí chống ngầm và năng lực phát triển hệ thống ống phóng thẳng đứng, bởi vì những trang thiết bị này lần đầu tiên xuất hiện trong một tàu chiến mà Việt Nam hiện có. Ngoài ra còn có hệ thống sonar, bởi vì khi nói tới tác chiến chống ngầm thì không thể thiếu được "hệ thống định vị thủy âm dưới nước".
Nếu nhìn hình ảnh thì chúng ta thấy tàu chống ngầm cũng có hệ thống sonar. Tuy nhiên chưa rõ là loại sonar mới này sẽ do Việt Nam phát triển hay do nước ngoài phát triển. Nhiều nguồn tôi tiếp cận được thì cho rằng Việt Nam sẽ mua hệ thống sonar này của Pháp, của Thales, tại vì các hệ thống sonar của Thales Việt Nam đã tiếp cận và cũng đã lắp đặt trên các tàu chống ngầm cũ của Việt Nam rồi.
Ngoại trừ hệ thống sonar và có thể là ngoại trừ tên lửa phòng không, tất cả những thứ khác từ súng cho tới rocket chống ngầm và các loại radar đều là sản phẩm của ngành công nghiệp ttong nước, không chỉ là Viettel, mà còn một số nhà máy của Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng Việt Nam sản xuất ra. Có thể thấy là từ 80 tới 90% các hệ thống vũ khí, radar và các hệ thống vận hành tàu đều là sản phẩm của Việt Nam, dựa trên các thiết kế trước đây đã được kiểm chứng trong quá trình mà Việt Nam vận hành các loại tàu chiến khác nhau.
Hiện nay, lực lượng tàu chiến mặt nước chủ lực của Hải quân Nhân dân Việt Nam bao gồm bốn tàu hộ vệ tên lửa lớp Gepard 3.9 do Nga chế tạo: Đinh Tiên Hoàng, Lý Thái Tổ, Trần Hưng Đạo và Quang Trung. Chỉ có hai tàu Trần Hưng Đạo và Quang Trung là được trang bị các hệ thống chuyên dụng cho tác chiến chống tàu ngầm. Việt Nam cũng đang vận hành sáu tàu ngầm điện-diesel lớp Kilo, cùng với một số tàu hộ vệ và tàu hộ tống đời cũ hơn do Nga, Ấn Độ và Hàn Quốc chuyển giao.
Đồng thời, Việt Nam cũng mở rộng việc tự sản xuất các loại tàu tên lửa và tàu tuần tra. Tàu hộ vệ mới được kỳ vọng sẽ tăng cường khả năng của Việt Nam giám sát và ứng phó với các hoạt động trên biển, đặc biệt là tại những vùng biển đang có tranh chấp chủ quyền với Trung Quốc. Nhà nghiên cứu Nguyễn Thế Phương nhận định:
"Các loại tàu chiến mới này thứ nhất sẽ đóng vai trò như một phòng thử nghiệm cho việc phát triển các loại công nghệ và vũ khí mới của Hải quân Việt Nam trong tương lai, chứ không hẳn chỉ đóng vai trò tác chiến. Công nghệ mới nào cũng cần phải được thử nghiệm trong huấn luyện cũng như trong các cuộc diễn tập khác nhau, để xem các loại vũ khí mới đó có thực sự nó phù hợp với nhu cầu của con tàu và với mục tiêu tác chiến kỹ chiến thuật trên biển mà Hải quân Việt Nam yêu cầu hay không. Nhiệm vụ quan trọng nhất của tàu này là một phòng thí nghiệm cho các loại vũ khí mới mà Hải quân Việt Nam muốn nghiên cứu chế tạo và sản xuất.
Nhiệm vụ thứ hai rõ ràng là giải cơn khát về tàu chiến mặt nước của Việt Nam chắc phải từ 5 - 6 năm nay: Tàu chiến mặt nước gần nhất mà Việt Nam mua là của Nga từ 2019. Cho tới nay đây là tàu mặt nước lớn nhất mà Việt Nam tự chủ chế tạo và sản xuất. Trong khoảng thời gian 10 năm trở lại đây, thông qua hợp tác quốc tế và thông qua nỗ lực tự thân, Việt Nam cũng có đóng một số tàu tuần tra nhỏ, một số tàu cho Cảnh sát biển, tàu cứu hộ tàu ngầm, tàu huấn luyện, hoặc một số số tàu logistic khác, nhưng tàu chiến mặt nước từ 2019 đến nay chưa có.
Trong tương lai, cho tới năm 2030, Việt Nam mong muốn xây dựng được một năng lực tác chiến hải quân hiện đại đủ khả năng răn đe, chống xâm nhập, chống tiếp cận ở Biển Đông, đặc biệt là xung quanh khu vực tranh chấp. Việc sở hữu được một tàu chiến mặt nước có lượng giãn nước lớn, khoảng 3.000 tấn, sẽ giúp Việt Nam cải thiện năng lực tác chiến mặt nước.
Chưa kể là, nếu như tốc độ đóng tàu này tốt, nếu như những năng lực hải quân, công nghiệp quốc phòng thử nghiệm tốt, thì khả năng sắp tới Việt Nam sẽ xây dựng một mô hình tương đương với mô hình hạm đội của các nước phương Tây. Không lớn bằng mô hình hạm đội đó nhưng cũng đủ để Việt Nam có thể duy trì một lực lượng tác chiến độc lập, cơ động và giúp Việt Nam giải quyết các vấn đề trên biển một cách chủ động hơn."
Theo nhận định của hãng tin Anh Reuters ngày 12/08, việc đóng mới loại tàu hộ vệ này “đánh dấu một bước tiến nữa trong nỗ lực của Việt Nam nhằm phát triển ngành công nghiệp quốc phòng nội địa và giảm sự phụ thuộc vào các trang thiết bị có nguồn gốc từ Nga”. Hà Nội ngày càng chú trọng phát triển các giải pháp thay thế trong nước, trong bối cảnh các lệnh trừng phạt và sự giám sát quốc tế đối với trang thiết bị quốc phòng Nga gây khó khăn cho việc mua sắm và bảo trì khí tài. Về điểm này, tiến sĩ Nguyễn Thế Phương ghi nhận:
"Ở thời điểm hiện tại thì ưu tiên của Việt Nam sẽ là phát triển một nền công nghiệp quốc phòng nội địa tự thân, hiện đại, lưỡng dụng và ngày càng bớt phụ thuộc vào các nhà cung cấp vũ khí nước ngoài trong mọi lĩnh vực quốc phòng mà Việt Nam có thể tự nghiên cứu và tự chế tạo vũ khí.
Quá trình phát triển vũ khí hải quân này đã có từ 10 năm rồi, đặc biệt là từ sau sự kiện Hải Dương 981, Việt Nam bắt đầu dồn nguồn lực vào phát triển công nghiệp quốc phòng, mà công nghiệp đóng tàu chiến là một trong những cấu thành quan trọng của toàn bộ tổ hợp công nghiệp quốc phòng đó. Phải 10 năm sau cho đến bây giờ, chúng ta mới thấy được một số thành tựu nhất định. Vẫn còn rất nhiều thứ phải vượt qua, ví dụ như giới quan sát cũng nói rằng là ngành đóng tàu Việt Nam vẫn chưa có tự chủ được hoàn toàn 100%. Hay là hệ thống động cơ của con tàu mới, Việt Nam cũng vẫn chưa có đủ năng lực để chế tạo hệ thống động cơ hộp số và động cơ vận hành con tàu. Nhiều nguồn tin nói là Việt Nam sẽ không mua hệ thống động cơ từ Nga, mà sẽ mua động cơ từ Đức cho tàu mới này. Nó cũng cho thấy tư duy của Việt Nam là không một quốc gia nào có thể trở thành một đối tác đóng vai trò quá lớn. Đây cũng là bài học mà Việt Nam rút ra được từ cuộc chiến Nga-Ukraina.
Những yếu tố mang tính cải thiện năng lực của toàn bộ chuỗi cung ứng công nghiệp quốc phòng thứ nhất là sẽ giúp Việt Nam bớt phụ thuộc vào Nga, sẽ giúp Việt Nam chủ động hơn trong việc thực thi chiến lược hiện đại hóa quân đội, hiện đại hóa Hải quân Việt Nam. Thứ hai, nó cũng giúp cho nền công nghiệp quốc phòng Việt Nam có thêm nguồn lực.
Ở đây là nguồn lực không chỉ tới từ nhà nước mà còn là hợp tác công tư trong công nghiệp, mở rộng thị trường cho ngành công nghiệp, bởi vì bất cứ ngành công nghiệp nào cũng cần có thị trường để tồn tại. Chỉ dựa hoàn toàn vào ngân sách nhà nước thì không ổn. Ở đây phải có sự tham gia của tư nhân, một số nhà thầu quốc phòng.
Ở thời điểm hiện tại thì Việt Nam cũng sẽ không ưu tiên mua sắm theo kiểu chỉ mua vũ khí, mà Việt Nam cũng đòi hỏi ở các đối tác của mình một số điều khoản về chuyển giao công nghệ. Đó là lý do mà gần đây Việt Nam liên tiếp nâng cấp quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với một số nước, nhất là một số nước rất mạnh về công nghiệp quốc phòng như Nhật Bản, Hàn Quốc. Hàn Quốc là nhà xuất khẩu quốc phòng lớn thứ chín thế giới.
Những đối tác song phương quan trọng như vậy sẽ giúp mở rộng nguồn cung cấp công nghệ và giúp Việt Nam ngày càng giảm phụ thuộc vào Nga, cũng như giảm phụ thuộc vào bất kỳ một quốc gia nào khác. Càng ít phụ thuộc thì càng chủ động trong quá trình hoạch định chính sách, cũng như trong quá trình hiện đại hóa quân đội cũng như Hải quân nói riêng."
Việt Nam cũng đang chuẩn bị tổ chức Triển lãm Quốc phòng Quốc tế Việt Nam lần thứ ba tại Hà Nội vào tháng 12 tới. Sự kiện được tổ chức hai năm một lần này nhằm mục đích quảng bá ngành công nghiệp quốc phòng trong nước, đồng thời là cơ hội để Việt Nam tìm kiếm thêm nhiều nhà cung cấp trang thiết bị quân sự quốc tế. Tại triển lãm đầu tiên vào năm 2024, Việt Nam đã công bố tên lửa chống hạm đầu tiên do trong nước sản xuất mang tên Trường Sơn, cũng do Viettel phát triển. - Tháng 02/2026, Liên Hiệp Châu Âu (EU) đưa Việt Nam vào danh sách các khu vực không hợp tác về thuế do “chưa đạt mức xếp hạng tối thiểu là “Tuân thủ phần lớn” (Largely Compliant) theo đánh giá của Diễn đàn Toàn cầu về cơ chế trao đổi thông tin theo yêu cầu”. Đến tháng 08, Việt Nam đã nộp hồ sơ đề nghị đánh giá chuyên sâu, hướng tới nâng hạng tuân thủ, đưa Việt Nam ra khỏi danh sách các khu vực không hợp tác về thuế của EU (1).
Được rút hỏi danh sách đen về thuế không chỉ giúp Việt Nam tránh các biện pháp trừng phạt phòng vệ từ các đối tác lớn như Liên Hiệp Châu Âu, mà còn củng cố uy tín quốc gia trong hệ thống tài chính toàn cầu. Đây có thể được coi là mục đích chính trong chuyến thăm công tác tại Pháp của tổng bí thư-chủ tịch nước Việt Nam Tô Lâm từ ngày 09 đến 11/09/2026. Pháp có thể hỗ trợ được Việt Nam như thế nào trong lần đánh giá sắp tới của Liên Hiệp Châu Âu, dự kiến diễn ra tháng 10/2026 ?
RFI Tiếng Việt phỏng vấn giám đốc nghiên cứu Benoît de Tréglodé, Viện Nghiên cứu Chiến lược Trường Quân sự Pháp, IRSEM.
RFI : Trong bản cập nhật ngày 17/02/2026, Việt Nam và chín vùng lãnh thổ và quốc gia khác nằm trong danh sách "các khu vực pháp lý thuế không hợp tác" của Liên Hiệp Châu Âu. Đợt đánh giá tiếp theo dự kiến vào tháng 10/2026. Quyết định của Liên Âu gây bất lợi như thế nào cho Việt Nam về hình ảnh và các quyết định đầu tư, đặc biệt trong bối cảnh Mỹ cũng mở ba cuộc điều tra đối với Việt Nam ?
Benoît de Tréglodé : Điều đầu tiên cần lưu ý là trong thời gian qua đã diễn ra nhiều cuộc tiếp xúc cấp cao giữa tổng thống Pháp và chủ tịch nước kiêm tổng bí thư Việt Nam. Đây là lần thứ ba hai nhà lãnh đạo gặp nhau trong chưa đầy hai năm. Cuộc gặp đầu tiên diễn ra bên lề Hội nghị Thượng đỉnh Cộng đồng Pháp ngữ tại Villers-Cotterêts năm 2024, tiếp đó là cuộc gặp tại Hà Nội vào tháng 05/2025 và lần này là cuộc gặp thứ ba. Tuy nhiên, cũng cần nhìn nhận rằng quan hệ song phương vẫn chưa đạt được tốc độ phát triển như kỳ vọng của cả hai nước.
Trong bối cảnh đó, có một số vấn đề đáng được xem xét. Chuyến đi lần này mang tính chất chuyến công tác, không phải chuyến thăm cấp Nhà nước, do đó nội dung làm việc sẽ không chỉ giới hạn ở các vấn đề song phương. Dù một số ý kiến cho rằng hợp tác trong lĩnh vực không gian và hàng hải sẽ được thảo luận nhưng tôi cho rằng Việt Nam còn quan tâm đến nhiều mục tiêu quan trọng khác. Đáng chú ý, phái đoàn tháp tùng ông Tô Lâm từ ngày 09 đến 11/09 có quy mô rất lớn, khoảng 180 thành viên.
Việt Nam hiện có hai mối quan tâm hàng đầu. Thứ nhất là việc bị Liên Hiệp Châu Âu đưa vào “danh sách đen về thuế” đối với các quốc gia không hợp tác từ ngày 17/02/2026. Vấn đề này sẽ được xem xét lại vào tháng 10 tại Bruxelles. Trước đó, Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) đã cử một phái đoàn tới hỗ trợ Việt Nam đáp ứng các tiêu chí về minh bạch và hợp tác thuế quốc tế. Sẽ phải chờ xem tác động của phái đoàn này. Tuy nhiên, Liên Hiệp Châu Âu không nhất thiết phải tuân theo các khuyến nghị của OECD. Trong bối cảnh đó, Paris đóng vai trò đặc biệt quan trọng đối với Việt Nam. Với vị thế là một trong những quốc gia có ảnh hưởng trong Liên Hiệp Châu Âu, Pháp có thể ủng hộ quan điểm của Hà Nội và vận động để Việt Nam được rút khỏi nhóm 10 nước trong danh sách đen về thuế.
Đọc thêmLiên Hiệp Châu Âu đưa Việt Nam vào “danh sách đen” thuế vì vấn đề minh bạch
Điểm thứ hai, việc Việt Nam bị đưa vào danh sách đen có thể là một yếu tố làm phức tạp thêm, gây ảnh hưởng đến tiến trình phê chuẩn Hiệp định Bảo hộ Đầu tư EU-Việt Nam (EVIPA) tại các nước thành viên. Đối với Việt Nam, EVIPA là một ưu tiên chiến lược, thường được Hà Nội nhắc đến, bởi vì hiệp định này nhằm tăng cường bảo đảm pháp lý cho các nhà đầu tư châu Âu, khuyến khích đầu tư vào cơ sở hạ tầng, năng lượng, công nghiệp và công nghệ, phù hợp với những ưu tiên đầy tham vọng mà ông Tô Lâm đang thúc đẩy. Paris cũng chưa phê chuẩn Hiệp định này. Quá trình đã được khởi động và dự kiến sẽ sớm có tiến triển. Việc Pháp sớm phê chuẩn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với Việt Nam.
Nhìn chung, các ưu tiên của Việt Nam hiện nay tập trung vào hai nội dung chính : Trước hết là các vấn đề tài chính và kinh tế liên quan đến Liên Hiệp Châu Âu ; tiếp đến là các nội dung hợp tác song phương. Những vấn đề gắn với Bruxelles được xem là then chốt để Việt Nam triển khai chương trình phát triển kinh tế đầy tham vọng của ông Tô Lâm.
RFI : Hà Nội lấy làm tiếc quyết định của Liên Hiệp Châu Âu không phản ánh chính xác những nỗ lực của Việt Nam trong việc tăng cường tính minh bạch của hệ thống thuế. Đồng thời, Việt Nam đã thực hiện nhiều cải cách. Những cải cách đó là gì ? Và liệu chúng có khả năng thuyết phục Bruxelles xem xét lại quyết định trong đợt đánh giá sắp tới không ?
Benoît de Tréglodé : Tôi không phải là chuyên gia tài chính của OECD hay cơ quan giám sát thuế của Liên Hiệp Châu Âu, nhưng có thể khẳng định rằng việc Bruxelles đưa Việt Nam vào danh sách đen về thuế là một tín hiệu không thuận lợi cho Hà Nội.
Sau những bất ổn của hệ thống tài chính, từ vụ bê bối Sacombank đầu những năm 2010 đến cuộc khủng hoảng ngân hàng giai đoạn 2011-2012, Việt Nam đã triển khai nhiều chương trình cải cách nhằm nâng cao tính minh bạch và tăng cường mức độ hội nhập của nền kinh tế vào hệ thống quốc tế. Trên thực tế, chính quyền Việt Nam đã thực hiện nhiều cải cách để tái cơ cấu hệ thống ngân hàng, ngăn các tổ chức tài chính gặp khó khăn làm suy yếu toàn bộ hệ thống, tăng cường kiểm soát nợ xấu, củng cố vai trò của Ngân hàng Nhà nước và chấp nhận rộng rãi hơn các chuẩn mực quốc tế như Basel II (về tiêu chuẩn và quy định ngân hàng).
Đọc thêmEU-Việt Nam vượt bão thuế quan Mỹ qua Hiệp định Thương mại Tự do EVFTA ?
Tuy nhiên, theo đánh giá của Liên Hiệp Châu Âu, các cam kết cải cách được đưa ra trong thập niên 2010 vẫn chưa được thực hiện đầy đủ, dẫn đến việc Việt Nam bị đưa trở lại vào diện theo dõi và giám sát về thuế trong lần đánh giá tháng 02/2026.
Dù vậy, khả năng Việt Nam được rút khỏi danh sách này trong thời gian tới là hoàn toàn có cơ sở. Trong bối cảnh đó, tôi nghĩ Hà Nội đang nỗ lực củng cố và bảo vệ vị thế của mình thông qua việc tăng cường quan hệ với một quốc gia thành viên có tầm ảnh hưởng trong Liên Hiệp Châu Âu.
RFI : Trong trường hợp Liên Hiệp Châu Âu đánh giá những cải cách này là chưa đủ, như nêu ở trên. Và nếu Việt Nam vẫn nằm trong danh sách đen về thuế, điều này sẽ tác động như thế nào đến đất nước trong những năm tới, khi thực hiện mục tiêu tăng trưởng hàng năm ít nhất là 10% ?
Benoît de Tréglodé : Không thể nói rằng điều này sẽ ngăn cản đầu tư của châu Âu tại Việt Nam, vì đây chỉ là một trong những yếu tố trong quan hệ song phương. Tuy nhiên, việc Việt Nam xuất hiện trong danh sách đen về thuế, với những biện pháp thuế bất lợi, sẽ tác động đến sức hấp dẫn của Việt Nam trong mắt các chính phủ và doanh nghiệp châu Âu.
Tác động của việc này thể hiện trên nhiều phương diện. Trước hết, các giao dịch tài chính giữa Việt Nam và châu Âu có thể trở nên phức tạp, tốn thời gian hơn do phải trải qua các quy trình kiểm tra, thẩm định nghiêm ngặt hơn. Trong trường hợp phát sinh nghi ngờ, các cơ quan và tổ chức liên quan sẽ phải tiến hành xác minh kỹ hơn về nguồn gốc dòng tiền, hồ sơ thuế… Các thủ tục này sẽ làm gia tăng chi phí cho các doanh nghiệp. Và đây không phải là điều tích cực cho lắm.
Tác động thứ ba, tôi cho là cũng rất quan trọng, liên quan đến hệ thống ngân hàng Việt Nam. Đây là điều thực sự không cần thiết trong bối cảnh Việt Nam đang theo đuổi chương trình cải cách kinh tế và hiện đại hóa đầy tham vọng dưới sự lãnh đạo của tổng bí thư, chủ tịch nước Tô Lâm. Chẳng hạn, một ngân hàng Pháp cần tài trợ cho doanh nghiệp Việt Nam. Họ không từ chối nhưng bộ phận quản trị rủi ro hoặc tuân thủ có thể yêu cầu áp dụng mức lãi suất cao hơn để bù đắp cho các chi phí và rủi ro phát sinh do Việt Nam nằm trong danh sách không hợp tác về thuế.
Rủi ro là có nhưng không có nghĩa là sẽ bế tắc. Đối với phái đoàn Việt Nam, đây vẫn là một quan ngại lớn. Và để tăng cường quan hệ đối tác kinh tế với Liên Hiệp Châu Âu, Việt Nam cần phải thoát khỏi danh sách đen này.
RFI : Như ông đề cập ở trên, Pháp là một thành viên chủ chốt, có ảnh hưởng trong Liên Hiệp Châu Âu. Liệu Việt Nam có thể trông cậy vào sự ủng hộ của Pháp trong đợt đánh giá sắp tới của Liên Âu ?
Benoît de Tréglodé : Pháp đã thể hiện rất rõ vai trò là một đối tác tin cậy và đồng hành với Việt Nam. Hiệp định EVIPA sẽ sớm được phê chuẩn. Dĩ nhiên tôi không nắm được suy nghĩ của tổng thống Pháp nhưng nhiều khả năng các cuộc gặp từ ngày 09 đến 11/09 sẽ là dịp để Việt Nam đưa ra những trao đổi, hứa hẹn, đổi lại lời hứa của Pháp hỗ trợ Việt Nam vượt qua giai đoạn khó khăn này. Theo tôi, đây là động lực chính của Việt Nam trong chuyến công tác này và đề nghị Pháp giúp đỡ đưa Việt Nam ra khỏi danh sách đen về thuế của Liên Hiệp Châu Âu vào tháng 10 tới.
Đọc thêmHiệp định Đầu tư Trung–Âu bế tắc: Việt Nam có lợi nếu Liên Âu sớm phê chuẩn EVIPA
Vấn đề này cũng cần được đặt trong bối cảnh rộng hơn của chiến lược phát triển kinh tế mà ông Tô Lâm đề ra đến năm 2030. Với các mục tiêu tăng trưởng đầy tham vọng, bất kỳ rào cản nào làm suy giảm sức hấp dẫn của môi trường đầu tư hoặc cản trở cho tăng trưởng của Việt Nam, đều là điều không tốt. Bên cạnh đó, một định hướng quan trọng của Việt Nam là đa dạng hóa quan hệ kinh tế đối ngoại nhằm giảm phụ thuộc vào các đối tác lớn như Trung Quốc và Hoa Kỳ. Trong chiến lược này, việc củng cố và mở rộng hợp tác với Liên Hiệp Châu Âu giữ vai trò đặc biệt quan trọng.
Vì vậy, Việt Nam hiện đang đứng trước hai thách thức lớn. Thứ nhất, bảo đảm rằng Hiệp định EVIPA được các nước thành viên Liên Âu phê chuẩn càng sớm càng tốt, trong đó Pháp có thể đóng vai trò hỗ trợ đáng kể. Thứ hai, Pháp có thể giúp Việt Nam tăng cường minh bạch trong lĩnh vực tài chính và thuế để sớm được đưa ra khỏi danh sách đen của Liên Hiệp Châu Âu.
RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn giám đốc nghiên cứu Benoît de Tréglodé, Viện Nghiên cứu Chiến lược của Trường Quân sự Pháp (IRSEM).
(1) Việt Nam hoàn thiện khuôn khổ trao đổi thông tin vì mục đích thuế. - Tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào Việt Nam trong 7 tháng đầu năm 2026 đạt hơn 38 tỷ đô la, tăng 58% so với cùng kỳ năm 2025. Năm nhà đầu tư lớn nhất đều đến từ châu Á : Singapore, Hàn Quốc, Hồng Kông, Trung Quốc, Nhật Bản ; riêng Singapore chiếm 35,6% tổng vốn đăng ký cấp mới (7,5 tỷ đô la).
Các nhà đầu tư châu Á coi sự ổn định chính trị của Việt Nam là lợi thế, dù nước này có “những hạn chế về nhân quyền” và “chế độ chính trị mang tính chuyên chế”.
Đó là nhận định của giám đốc nghiên cứu Benoît de Tréglodé, Viện Nghiên cứu Chiến lược của Trường Quân sự Pháp (IRSEM), trong phần trả lời cho câu hỏi “Phải chăng Việt Nam lại đang hướng sang châu Á?” trong cuốn sách Le Việt Nam. Au carrefour d'une nouvelle Asie. En 100 questions (Việt Nam : Giữa ngã ba của một châu Á mới).
Vẫn theo chuyên gia Pháp, “các nhà lãnh đạo Việt Nam cũng đánh giá cao việc các đối tác không đặt ra những điều kiện này và cảm thấy thoải mái hơn khi hợp tác với những quốc gia có nền văn hóa chính trị tương đồng” (2) trái với các đối tác phương Tây, vẫn thường đặt điều kiện đầu tư với hàng loạt ràng buộc về các quyền và nghĩa vụ. Trong những năm gần đây, “cho dù các nước phương Tây đã tiết chế những phát biểu về nhân quyền nhưng ảnh hưởng của họ vẫn bị suy giảm trước sức mạnh của các nền kinh tế châu Á”.
Việt Nam đang chuyển hướng sang châu Á? RFI Tiếng Việt phỏng vấn giám đốc nghiên cứu Benoît de Tréglodé.
RFI : Trong tựa đề cuốn sách, ông nhắc đến “một châu Á mới”. Chính xác thì chúng ta nên hiểu “châu Á mới” này như thế nào trong bối cảnh hiện tại, và Việt Nam đang đứng ở vị trí nào tại ngã ba đường của “châu Á mới” này ?
Benoît de Tréglodé : Vì sao lại là "Ngã ba đường của một châu Á mới" ? Khi đặt tên cho một cuốn sách, tiêu đề luôn cần có sức tạo ấn tượng mạnh mẽ. Chính vì vậy, nhà xuất bản Tallandier đã lựa chọn tiểu tựa đề "Ở ngã ba của một châu Á mới". Châu Á đang chuyển mình mạnh mẽ từng ngày, và hình ảnh "ngã ba đường" phản ánh cách nhìn về vị thế của Việt Nam trong bối cảnh đó.
Thoạt nghe, đây có thể là một cách diễn đạt khá khái quát, nhưng lại hàm chứa nhiều ý nghĩa. Trong một thời gian dài, các đối tác chủ yếu của Việt Nam là những cường quốc phương Tây ở xa : trước hết là Pháp trong thời kỳ thuộc địa, rồi đến Liên Xô và Hoa Kỳ trong thời kỳ Chiến tranh Việt Nam… Chỉ đến khi gia nhập Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Việt Nam mới thực sự tái khám phá bản sắc và không gian châu Á của mình. Từ đó, Hà Nội dần nhận ra rằng việc thu hút dòng vốn đầu tư nước ngoài và mở rộng hợp tác kinh tế với các nền kinh tế năng động, đang lên của Đông Á là chìa khóa để đa dạng hóa các mối quan hệ đối ngoại và tạo thế cân bằng về địa-chính trị.
Các nhà lãnh đạo Việt Nam nhanh chóng hiểu rằng cách tiếp cận dựa trên địa-kinh tế này có thể giúp đất nước tránh bị cuốn vào thế đối đầu giữa hai cường quốc : một bên là Trung Quốc - đối tác chính trị, kinh tế và chiến lược có ảnh hưởng sâu rộng và bên kia là Hoa Kỳ - quốc gia mà Việt Nam cũng phụ thuộc rất lớn về kinh tế.
Vì vậy, đây cũng là cách để cân bằng tất cả các mối quan hệ với thế giới bằng cách mở cửa nền kinh tế cho các quốc gia và nền kinh tế khác. Điều này cho thấy Việt Nam không phụ thuộc vào một quốc gia duy nhất. Việt Nam có khả năng cân bằng lại các mối quan hệ kinh tế và do đó có thể ứng phó với những sức ép hoặc đòi hỏi quá mức từ các đối tác lớn.
RFI : Ông vừa đề cập là Việt Nam hướng trở lại châu Á. Vậy sự tập trung trở lại vào châu Á này sẽ có ý nghĩa gì đối với Việt Nam ?
Benoît de Tréglodé : Bởi vì, như tôi vừa đề cập, Việt Nam đang theo đuổi một chiến lược cân bằng rất rõ ràng. Điều đó được thể hiện qua hình ảnh một thủ tướng được cộng đồng doanh nghiệp quốc tế đánh giá cao như ông Lê Minh Hưng, người luôn chủ động chào đón và khuyến khích các nhà đầu tư từ Hàn Quốc, Nhật Bản, Singapore cũng như Hoa Kỳ.
Hoa Kỳ hiện là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam, chiếm khoảng 25% tổng kim ngạch xuất khẩu, và là một đối tác có ý nghĩa đặc biệt đối với nền kinh tế Việt Nam. Tuy nhiên, giữa hai nước vẫn tồn tại một số bất đồng khiến Hà Nội chưa thể coi quan hệ kinh tế với Washington là hoàn toàn không có rủi ro.
Chẳng hạn, Hoa Kỳ gần đây đã đưa ra mức cảnh báo cao đối với Việt Nam trong báo cáo thường niên về bảo vệ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ. Điều này có thể dẫn đến các cuộc điều tra sâu hơn và kéo theo nguy cơ Washington áp dụng các biện pháp trừng phạt thương mại. Bên cạnh đó, phía Hoa Kỳ cũng nhiều lần bày tỏ quan ngại về tình trạng lao động cưỡng bức tại Việt Nam, trong khi bộ Ngoại Giao Việt Nam bác bỏ các cáo buộc này. Có thể thấy, quan hệ kinh tế giữa Việt Nam và Hoa Kỳ vẫn phát triển mạnh mẽ nhưng đồng thời cũng chịu tác động bởi những bất đồng nhỏ phản ánh tính chất đặc biệt của một quan hệ song phương được định hình bởi lịch sử và vì thế vẫn luôn chứa đựng những yếu tố nhạy cảm.
Trong khi đó, các đối tác ở ASEAN và Đông Á lại mở ra cho Việt Nam những cơ hội rất lớn. Các doanh nghiệp trong khu vực hiện sở hữu năng lực cạnh tranh công nghệ ngày càng cao, cung cấp nhiều sản phẩm có thể cạnh tranh trực tiếp với các tập đoàn phương Tây, không chỉ về chất lượng mà còn về giá cả. Quan trọng hơn, cách thức hợp tác và văn hóa kinh doanh của các đối tác châu Á thường gần gũi với môi trường kinh doanh của Việt Nam hơn, giúp quá trình hợp tác diễn ra thuận lợi và thực dụng hơn.
Thực tế, trong những năm gần đây, có thể thấy làn sóng đầu tư mạnh mẽ từ các nền kinh tế châu Á vào Việt Nam. Các nhà đầu tư này chủ yếu tập trung vào hoạt động kinh doanh, không chỉ trích bất cứ điều gì, ít gắn các quyết định đầu tư với những điều kiện hay yêu cầu mang tính chính trị.
Đối với các nhà lãnh đạo Việt Nam, sự đa dạng hóa các đối tác kinh tế còn mang một ý nghĩa chiến lược sâu sắc. Nó cho phép Việt Nam gửi đi một thông điệp rõ ràng tới các đối tác truyền thống : "Hãy nhìn xem, chúng tôi không phụ thuộc vào bất kỳ ai. Chúng tôi có thể có thể vận hành cỗ máy mà không nhất thiết cần các vị. Chúng tôi phát triển cùng nhiều đối tác khác, từ nhiều thị trường và nhiều nhà đầu tư khác nhau".
Nói cách khác, tự chủ kinh tế không chỉ là một mục tiêu phát triển, mà còn là nền tảng để xây dựng tự chủ chiến lược. Đó là giấc mơ trường tồn của giới cầm quyền Việt Nam.
RFI : Năm câu hỏi cuối cùng liên quan đến Việt Nam và Pháp : Liệu hai đất nước có “một tương lai chung” không ?
Benoît de Tréglodé : Đó là một câu hỏi không dễ trả lời. Đúng là phần cuối cuốn sách do Nhà xuất bản Tallandier phát hành được dành để phân tích quan hệ giữa Pháp và Việt Nam. Đây cũng là một khuôn khổ chung mà các tác giả trong bộ sách đều phải tuân thủ.
Nhưng nếu nhìn vào thực tế, quan hệ giữa hai nước ngày nay đã thay đổi rất nhiều so với ba thập niên trước. Sẽ không khách quan nếu không thừa nhận điều đó. Tại Pháp, cả giới chính trị lẫn dư luận vẫn chịu ảnh hưởng khá sâu sắc của ý niệm về "một thế kỷ lịch sử chung" giữa hai nước. Tuy nhiên, từ góc nhìn của Việt Nam, giai đoạn ấy trước hết là thời kỳ thực dân Pháp cai trị. Việt Nam không đánh giá cao "Phần lịch sử chung" này.
Pháp đã chuyển từ quan niệm lịch sử đó sang hướng thực dụng hơn. Pháp cũng đang thấy ảnh hưởng suy yếu dần tại Việt Nam. Điều này thể hiện rất rõ trên phương diện kinh tế. Vào đầu và giữa những năm 1990, các công ty Pháp từng nắm giữ gần 6% thị phần; ngày nay, con số này chỉ còn khoảng 0,4% đến 0,5% thị phần trong nước do sự bùng nổ của cạnh tranh quốc tế và sự năng động cực độ của các doanh nghiệp châu Á. Song song đó, cộng đồng Pháp ngữ cũng đã suy yếu đáng kể ở Việt Nam nói riêng và trên toàn thế giới nói chung.
Nhìn tổng thể, dù xét trên phương diện kinh tế, văn hóa hay chính trị, ảnh hưởng của Pháp tại Việt Nam đều đã suy giảm đáng kể. Đây là thực tế cần được nhìn nhận, đồng thời cũng là yếu tố đầu tiên giúp lý giải sự thay đổi trong quan hệ giữa hai nước.
Về phía Việt Nam, cách tiếp cận cũng mang tính thực dụng không kém. Hà Nội ưu tiên hợp tác với những đối tác đáp ứng tốt nhất các mục tiêu phát triển của mình. Trong bối cảnh hiện nay, nhiều nền kinh tế châu Á có khả năng đáp ứng hiệu quả hơn nhu cầu của Việt Nam về đầu tư, công nghệ, công nghiệp và tiêu dùng của tầng lớp trung lưu đang gia tăng. Đồng thời, họ cũng phù hợp hơn với những tính toán về địa kinh tế và chuỗi cung ứng trong khu vực.
Chính sự thay đổi trong các ưu tiên phát triển của Việt Nam, cùng với sự cạnh tranh ngày càng quyết liệt từ các đối tác châu Á, đã góp phần làm giảm vai trò và ảnh hưởng của Pháp tại Việt Nam trong những năm gần đây.
RFI Tiếng Việt chân thành cảm ơn giám đốc nghiên cứu Benoît de Tréglodé, Viện Nghiên cứu Chiến lược của Trường Quân sự Pháp (IRSEM). - Hội nghị lần thứ 17 của Liên Hiệp Quốc (COP17) về Chống Sa mạc hóa đang diễn ra từ ngày 17 đến 28/08/2026 tại Ulan Bator, thủ đô của Mông Cổ. Hội nghị quy tụ 197 quốc gia và tổ chức khu vực nhằm giải quyết vấn đề phục hồi đất đai và chống hạn hán. COP17 về Chống sa mạc hóa diễn ra trong khuôn khổ Năm Quốc tế về Đồng cỏ và Chăn nuôi Du mục.
Đồng cỏ là những vùng đất tự nhiên rộng lớn, không canh tác, chủ yếu được sử dụng để chăn thả gia súc, bao phủ hơn một nửa diện tích đất liền của Trái Đất và trực tiếp hỗ trợ sinh kế cho khoảng 500 triệu người. Chăn nuôi du mục hay chăn thả tự do cũng là một vấn đề trọng tâm tại hội nghị COP lần này. Đây là phương thức chăn nuôi quảng canh, dựa vào việc gia súc ăn cỏ tự nhiên trên đồng cỏ và thường có đặc điểm là tính di động của người chăn nuôi và đàn gia súc.
Do 2026 là Năm Quốc tế Du mục, cho nên tại Triển lãm Nông nghiệp Quốc tế Paris ( 27/02 - 07/03/2026 ), Trung tâm Hợp tác Quốc tế về Nghiên cứu Nông nghiệp vì Sự Phát triển ( CIRAD ) của Pháp cùng với Cơ quan Phát triển Pháp ( AFD ) đã chọn chăn nuôi du mục là chủ đề chính, nhằm quảng bá rộng rãi hơn một hình thức chăn nuôi còn rất phổ biến ở nhiều nước, trong đó có cả Việt Nam, nhưng cho tới nay ít được giới nghiên cứu và các chính quyền để ý đến.
Trả lời RFI Việt ngữ tại Triển lãm Nông nghiệp, kỹ sư nông học Guillaume Duteurtre, nhà nghiên cứu tại trung tâm CIRAD, cho biết :
“Năm quốc tế này là cơ hội để giới thiệu những gì chúng tôi đang làm trong lĩnh vực này cho CIRAD và AFD, và đặc biệt là tham gia vào các hoạt động vận động, chiến dịch nâng cao nhận thức và các sự kiện giúp thúc đẩy phát triển chăn nuôi du mục ở các quốc gia mà chúng tôi hoạt động.
Trên hành tinh của chúng ta, chăn thả du mục hiện diện ở mọi vĩ độ. Từ các vĩ độ phía bắc với việc chăn nuôi tuần lộc, đến các vĩ độ nhiệt đới và thậm chí cả xích đạo với chăn nuôi gia súc, tức là ở vùng thảo nguyên. Đó là một hệ thống chăn nuôi gia súc và một lối sống của khoảng 500 triệu người trên toàn thế giới, dựa trên việc sử dụng thảm thực vật tự nhiên.
Chủ yếu đó là chăn nuôi gia súc, động vật nhai lại, nhưng cũng bao gồm cả chăn nuôi lạc đà, và đôi khi cả ngựa nữa, như ở Mông Cổ, nơi mà ngựa có vai trò rất quan trọng. Đó là một hệ thống giúp cho nhiều cộng đồng kiếm sống từ hoạt động thường được liên kết với nông nghiệp. Chăn thả kết hợp với nông nghiệp cũng là một hệ thống cho phép sử dụng bền vững các khu vực rừng nơi động vật được chăn thả. Trong ngành chăn thả kết hợp lâm nghiệp ( sylviopastoralisme ), chúng ta cũng có thể sử dụng các sản phẩm từ rừng.
Ở châu Âu, rõ ràng đây là một hệ thống quan trọng, đặc biệt là ở các vùng núi. Nhưng ở các quốc gia nhiệt đới mà CIRAD hoạt động, đây là một hệ thống có tính cấu trúc đặc biệt đối với các vùng lãnh thổ. Người ta ước tính rằng, trên toàn thế giới, đồng cỏ – những vùng đất rộng lớn với thảm thực vật tự nhiên – chiếm khoảng 45% diện tích đất liền của Trái đất. Đây là những vùng lãnh thổ khổng lồ.”
Ngành chăn nuôi du mục hiện đang phải đối mặt với những thách thức nào do tác động của biến đổi khí hậu, vốn đang ngày càng làm giảm diện tích đất có thảm thực vật? Kỹ sư Guillaume Duteurtre giải thích :
“Tác động của biến đổi khí hậu khác nhau tùy thuộc vào từng khu vực. Những gì đang xảy ra ở Siberia không giống với những gì đang xảy ra ngay giữa vùng Sahel ( Châu Phi ). Vì vậy, phải tính đến bối cảnh địa phương. Ví dụ chúng tôi đã thực hiện rất nhiều nghiên cứu ở Tây Phi và vùng Sahel. Chúng tôi nhận thấy lượng mưa đang tăng lên do biến đổi khí hậu, nhưng được phân bổ không đồng nhất giữa các mùa và trong suốt các năm. Do đó, các hệ thống này đang chịu áp lực do sự bất thường này.
Chúng tôi cũng nhận thấy nhiệt độ đang tăng lên ở khu vực Sahel. Điều này gây thêm áp lực lên vật nuôi. Do lượng mưa đang tăng lên và được phân bổ không đều, cho nên đã xảy ra một số trận lũ lụt và các hiện tượng thời tiết cực đoan, dẫn đến cái chết của động vật. Ví dụ, trong mùa mưa vừa qua ở Sahel, đã có nhiều động vật bị chết đuối.
Đó là bối cảnh khí hậu chung. Vì vậy, khó khăn nằm ở việc thích ứng với những thay đổi này, đồng thời cũng thích ứng với những thay đổi khác. Thay đổi lớn đầu tiên tất nhiên là sự gia tăng diện tích đất canh tác và sự gia tăng số lượng động vật. Với sự gia tăng dân số, áp lực từ thị trường thịt và sữa, thế giới ngày càng có nhiều động vật hơn, trong khi không gian sống ngày càng ít hơn. Vì vậy, đó là hạn chế đầu tiên: có sự căng thẳng cả về đồng cỏ chăn thả và đường đi của động vật, hành lang tiếp cận sông ngòi, nguồn nước uống, hành lang tiếp cận khu vực trú ẩn, v.v. Và hiện nay còn có một sự thay đổi lớn khác đang diễn ra: Trong khuôn khổ Công ước Liên Hiệp Quốc về Đa dạng sinh học, các quốc gia cam kết sẽ tăng diện tích các khu bảo tồn, các khu vực bảo vệ thiên nhiên.”
Riêng ở Việt Nam hiện nay, chăn thả tự do vẫn là một trong 3 phương thức chăn nuôi phổ biến cùng với chăn nuôi bán công nghiệp và chăn nuôi theo kiểu công nghiệp. Phương thức chăn thả tự do có những lợi thế, như tận dụng được nguồn thức ăn tự nhiên, phụ phẩm nông nghiệp, vật nuôi cho chất lượng thịt săn chắc, thơm ngon, nhưng phương thức này lại có nhược điểm là phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên, quy mô nuôi đàn chỉ ở mức vừa phải, và nhất là khó kiểm soát dịch bệnh.
Vấn đề đang được đặt ra đối với những vùng vẫn còn tồn tại phương thức chăn thả như ở tỉnh Điện Biên ở miền bắc Việt Nam, đó là phải làm sao giảm thiểu xung đột giữa phương thức chăn nuôi này với việc bảo tồn đa dạng sinh học. Trung tâm CIRAD đã có những hoạt động để hỗ trợ nông dân vùng núi miền bắc Việt Nam chuyển từ chăn thả tự nhiên sang canh tác sinh thái và chăn nuôi, theo lời kỹ sư Guillaume Duteurtre :
“Trung tâm CIRAD đã làm việc từ nhiều năm qua ở Việt Nam, đặc biệt là các vùng núi phía Bắc, về hệ thống canh tác sinh thái và chăn nuôi, mà theo truyền thống thường được tích hợp cao, với một ít ruộng lúa, một vài cây ăn quả, một số ao hồ và một đàn gia súc nhỏ như dê hoặc bò. Trong lĩnh vực này, chúng tôi đang hợp tác với các tổ chức nghiên cứu của Việt Nam và bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn để khuyến khích các hệ thống nông nghiệp sinh thái và thúc đẩy các phương pháp quản lý môi trường để sản xuất nhưng vẫn tôn trọng môi trường.
Có những thách thức đáng kể liên quan đến tình trạng xói mòn sườn dốc ở khu vực phía Bắc Việt Nam này, do việc chuyên canh cây trồng, đặc biệt là ngô và sắn. Do đó, chúng tôi đang làm việc với tất cả các đối tác về các hệ thống canh tác và chăn nuôi tích hợp để sản xuất ngô và sắn đồng thời bao gồm cả chăn nuôi. Vì vậy, lợi thế của việc chăn nuôi gia súc ở khu vực này là có thể tận dụng được diện tích rừng, rất rộng lớn do các quy định rất nghiêm ngặt về bảo tồn rừng cộng đồng và rừng sản xuất. Gia súc có thể giúp nâng cao giá trị của các khu vực rừng này khi được chăn thả, bởi vì chúng không chỉ ăn cỏ mà còn ăn rất nhiều lá cây. Và trên hết, chúng tôi sẽ cố gắng thúc đẩy việc sử dụng phân chuồng để duy trì độ phì nhiêu của đất tại các vườn cây ăn quả và các khu rừng trồng để bán.
Đó là một quan hệ đối tác rất tốt và chúng tôi đang cố gắng đo lường lợi ích môi trường của các hệ thống nông nghiệp và chăn nuôi tích hợp này, vốn đã rất quen thuộc với thế hệ những người lớn tuổi trong cộng đồng, ít nhất là những người lớn tuổi trong khu vực đó. Chúng tôi đang so sánh những lợi ích môi trường này với lợi ích kinh tế để giúp ra quyết định về các chính sách phát triển.”
Trong khuôn khổ các hoạt động ở Việt Nam, trung tâm CIRAD đã tham gia vào Dự án Chuyển đổi hệ thống Nông nghiệp sinh thái và Thực phẩm an toàn (ASSET), tại 2 tỉnh Sơn La và Điện Biên, từ năm 2021. Với tài trợ của Cơ quan Phát triển Pháp (AFD), Liên Hiệp Châu Âu (EU) và Quỹ Môi trường toàn cầu của Pháp (FFEM), dự án ASSET hướng tới mục tiêu thúc đẩy hệ thống nông nghiệp sinh thái, nâng cao an toàn thực phẩm và phát triển sinh kế bền vững. Kỹ sư Guillaume Duteurtre cho biết :
“Chúng tôi làm việc trước hết với chính quyền địa phương, những người đảm trách việc hỗ trợ sự phát triển này và rất nhiệt tình tham gia vào các cơ chế tham gia, trong đó chúng tôi thảo luận với đại diện của nông dân để xác định phương pháp tiếp cận tốt nhất cho từng khu vực. Chúng tôi cũng hợp tác với lãnh đạo các tổ chức quần chúng, vốn được tổ chức rất chặt chẽ ở Việt Nam, đại diện cho nông dân, gia đình họ và các hội phụ nữ, để cố gắng nâng cao nhận thức trong cộng đồng về các hệ thống này, đôi khi phức tạp hơn hệ thống chuyên canh, độc canh, nhưng về lâu dài lại bền vững và có khả năng chống chịu tốt hơn nhiều.
Chúng tôi có một số kinh nghiệm rất tốt về dự báo, tức là các kịch bản tương lai mà chúng tôi cố gắng phát triển tại địa phương ở cấp xã với các cộng đồng cư dân này để dự trù trong những năm nào chúng ta sẽ chuyên canh cây mắc ca, liệu chúng ta có thúc đẩy chăn thả gia súc trong vườn mắc ca hay không, liệu chúng ta có khuyến khích sản xuất thịt khô để thúc đẩy ngành chăn nuôi bò zebu hoặc lợn hay không, v.v. Đây là những kinh nghiệm về đổi mới thông qua hợp tác, một cách thức nghiên cứu mới đối với chúng tôi cùng với các đồng nghiệp nghiên cứu của Việt Nam.
Chúng tôi vừa mới hoàn thành một dự án rất lớn, kéo dài 5 năm do Liên Hiệp Châu Âu tài trợ, tại khu vực Điện Biên, nơi chúng tôi đã hợp tác rộng rãi với nhiều sắc tộc thiểu số trong khu vực. Hiện tại chúng tôi đang xem xét các dự án nhằm thúc đẩy nền kinh tế tuần hoàn, tức là tái chế sinh khối thông qua các hệ thống canh tác hỗn hợp. Vì vậy, hiện tại chúng tôi đang xây dựng một dự án lớn với nhiều đối tác về kinh tế tuần hoàn, đây là một cách tiếp cận khác biệt hơn đối với phát triển nông nghiệp hiện nay, đặc biệt là ở những vùng lãnh thổ dễ bị tổn thương này.”
Vào tháng 10 năm ngoái, trung tâm CIRAD cùng với Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam và Tổ chức GRET Viện đã tổ chức hội thảo để tổng kết việc thực hiện dự án ASSET tại Điện Biên. Các bên đánh giá dự án này đã đạt những kết quả tích cực đó là làm thay đổi phương thức sản xuất từ chăn thả, bán chăn thả sang chăn nuôi có quản lý, kiểm soát.
Über Tạp chí Việt Nam
Những vấn đề, sự kiện đang được dư luận quan tâm ở Việt Nam
Podcast-Website