Tạp chí Việt Nam
Neueste Episode
86 Episoden
- Như mọi năm, ngày 07/06/2026 là Ngày An toàn Thực phẩm Thế giới, một dịp để các nước thúc đẩy các giải pháp hướng tới một hệ thống thực phẩm an toàn hơn cho người dân.
Nhân ngày này, bà Angela Pratt, trưởng đại diện Tổ chức Y tế Thế giới WHO tại Việt Nam, đã kêu gọi Việt Nam “tiếp tục tăng cường các thực hành vệ sinh tốt và chế biến, bảo quản thực phẩm an toàn, nâng cao nhận thức của người tiêu dùng, mở rộng ứng dụng các công nghệ truy xuất nguồn gốc thực phẩm, tạo thêm bằng chứng khoa học thông qua nghiên cứu và thúc đẩy các chính sách hiệu quả hơn.”
Đối với Việt Nam, một trong những vấn đề đang được đặt ra ngày càng cấp thiết đó là bảo đảm an toàn thực phẩm tại các chợ truyền thống. Hầu như ai cũng biết là thịt cá được bán tại các chợ truyền thống khó mà bảo đảm được vệ sinh an toàn thực phẩm, nhưng vì giá rẻ hơn siêu thị nên nhiều người có thu nhập thấp vẫn phải mua tại đây.
Vệ sinh an toàn thực phẩm ở các chợ truyền thống ở Việt Nam cũng là một lĩnh vực nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Chăn nuôi Quốc tế (ILRI), đặc biệt là về thịt heo ở các chợ này. Trả lời RFI Việt ngữ ngày 06/07/2026, ông Nguyễn Việt Hùng, giám đốc khu vực châu Á của Viện Nghiên cứu Chăn nuôi Quốc tế (ILRI), cho biết:
"Viện Nghiên cứu Chăn nuôi Quốc tế ILRI ở Việt Nam làm việc rất chặt chẽ với các đối tác ở Việt Nam, chủ yếu là các cơ quan nghiên cứu thuộc bộ Nông Nghiệp và bộ Y Tế. Những đóng góp của chúng tôi chủ yếu là làm nghiên cứu để tìm ra được bằng chứng, để biết được những vấn đề ô nhiễm thực phẩm xảy ra ở đâu là quan trọng nhất và phát triển những biện pháp can thiệp đơn giản và giá rẻ để cải thiện được tình hình vệ sinh an toàn thực phẩm ở các chợ truyền thống và ở các lò giết mổ nhỏ lẻ ở Việt Nam.
Hy vọng là những bằng chứng và những sáng kiến về cải thiện an toàn thực phẩm sẽ được nhân rộng ra ở các địa phương. Hiện tại chúng tôi có làm những can thiệp ở năm tỉnh Thái Nguyên, Hà Nội, sau đó là Huế, Cần Thơ và Đồng Nai, tập trung vào các chợ truyền thống."
Về tình hình vệ sinh thực phẩm tại các chợ truyền thống ở Việt Nam, ông Nguyễn Việt Hùng ghi nhận:
“Ở Việt Nam cũng như các nước đang phát triển nói chung, phần lớn thực phẩm được bán ở các chợ truyền thống. Trong nghiên cứu của chúng tôi ở các nước đang phát triển, chủ yếu là các nước ở châu Á và các nước châu Phi, chợ truyền thống thực ra là một từ chung để chỉ những nơi mà người ta thường bày bán những thực phẩm tươi sống và một trong những đặc trưng chính ở các chợ này là tình hình vệ sinh không được tốt, cũng như cơ sở hạ tầng thường không được tốt để đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm. Nó khác một chút so với những hệ thống siêu thị, nơi mà các cơ sở hạ tầng được đảm bảo tốt hơn cho an toàn thực phẩm.
Về các chợ truyền thống ở Việt Nam, chính sách của Việt Nam là phần lớn các chợ đều được các cơ quan quản lý địa phương để ý và người ta thành lập các ban quản lý chợ. Tuy nhiên, những vấn đề mất an toàn thực phẩm vẫn thường xuyên diễn ra. Viện Nghiên cứu Chăn nuôi Quốc tế ILRI cùng với các đối tác ở Việt Nam tập trung nghiên cứu về vấn đề mất an toàn thực phẩm chủ yếu ở chuỗi giá trị thịt heo, bởi thịt heo là một thực phẩm mà người Việt Nam sử dụng rất nhiều.
Phần lớn thịt heo ở Việt Nam là được bày bán ở các quầy chợ truyền thống này. Những nghiên cứu của chúng tôi chỉ ra rằng các mẫu thịt lợn được thu thập ở các chợ truyền thống có tỷ lệ nhiễm vi khuẩn gây bệnh như Salmonella còn tương đối cao: Từ khoảng 30 đến 70% số mẫu được thu thập ở các chợ truyền thống là có vi khuẩn gây bệnh Salmonella.
Đấy là ở chợ truyền thống. Nếu quay ngược lại chu trình sản xuất, về các lò mổ ở Việt Nam, ngoài một số nhỏ là lò mổ tập trung hiện đại, phần lớn là những lò mổ truyền thống. Người ta giết mổ thịt lợn ở dưới sàn nên điều kiện vệ sinh không được tốt và quá trình lây nhiễm chéo vi sinh vật trong các lò mổ đó cũng thường xuyên diễn ra.
Và cuối cùng, khi chúng ta có thịt lợn từ lò mổ mang lên chợ bày bán cho người dân mang về ở hộ gia đình tiêu thụ, việc có đảm bảo được an toàn thực phẩm hay không lại phụ thuộc vào khâu chế biến thực phẩm ở các hộ gia đình.
Chúng tôi đã làm nghiên cứu tính ra được một số nguy cơ lây nhiễm chéo ở hộ gia đình và cũng đưa ra những khuyến cáo làm thế nào để chuỗi sản xuất thịt heo ở Việt Nam nói chung được cải thiện tốt hơn qua việc cải thiện vệ sinh từ trang trại đến lò mổ, đến chợ và đến việc chế biến thực phẩm, cũng như tiêu thụ tại hộ gia đình.
Những nghiên cứu của chúng tôi chỉ ra rằng ô nhiễm thực phẩm chủ yếu là ở các quầy thịt heo ở Việt Nam, nếu không được xử lý ở góc độ vệ sinh và không được nấu chín trước khi tiêu thụ, thì nó sẽ gây ra những bệnh truyền lây qua thực phẩm cho người tiêu dùng.
Vi khuẩn Salmonella là một trong những vi khuẩn gây bệnh chính ở các loại thịt nói chung và đặc biệt là thịt lợn, sẽ gây ra bệnh tiêu chảy và những bệnh liên quan nếu không được được xử lý. Nghiên cứu cách đây mấy năm trước của chúng tôi ước lượng khoảng 17% số người ăn thịt heo có thể có vấn đề về sức khỏe, bị ốm do việc chế biến thịt heo ở Việt Nam, do lây nhiễm chéo ở hộ gia đình."
Theo báo chí trong nước, vào đầu tháng 6 vừa qua, chợ Tân Mỹ, thuộc phường Tân Mỹ, Thành phố Hồ Chí Minh đã khai trương 2 quầy thịt đầu tiên tại chợ truyền thống được phép sử dụng bộ nhận diện thương hiệu "Tick xanh trách nhiệm". Cho tới nay, các sản phẩm mang nhãn "Tick xanh trách nhiệm" chủ yếu được phân phối qua hệ thống siêu thị và cửa hàng tiện lợi. Kế hoạch theo dự kiến sẽ được mở rộng ra hơn 400 chợ truyền thống trên toàn TP Hồ Chí Minh. Ông Nguyễn Việt Hùng đánh giá về kế hoạch này:
"Tôi nghĩ đây là một việc làm rất tốt của Thành phố Hồ Chí Minh. Thực ra khi làm nghiên cứu ấy thì chúng tôi thấy ở các chợ đầu mối, người ta quản lý tương đối tốt bằng việc truy xuất nguồn gốc, tức là những lô thịt heo được nhập vào các chợ bán thực phẩm ở Thành phố Hồ Chí Minh, như ở chợ Bình Điền mà chúng tôi theo dõi, đều có hệ thống kiểm soát để biết được thịt heo đó đến từ trang trại nào, đến từ lò mổ nào và có được cấp giấy phép lưu hành hay không.
Việc truy xuất nguồn gốc giúp cho chúng ta đảm bảo được an toàn vệ sinh thực phẩm ở Việt Nam. Tôi nghĩ đây là một mô hình tốt nên được nhân rộng. Tuy nhiên, ở những chợ nhỏ lẻ hơn thì tôi không biết có áp dụng được như ở các chợ đầu mối lớn hay không.
Luật An toàn Thực phẩm lần đầu tiên được công bố, đưa vào hoạt động năm 2010 và sau 16 năm triển khai thì đang được nhà nước Việt Nam xem lại. Theo tôi được biết là sắp tới đây Luật An toàn Thực phẩm sửa đổi sẽ được thảo luận ở Quốc Hội và nhấn mạnh rất nhiều đến vấn đề truy xuất nguồn gốc trong an toàn thực phẩm."
Nhưng theo ông Nguyễn Việt Hùng, các biện pháp được đưa ra để cải thiện tình hình vệ sinh an toàn thực phẩm phải phù hợp với điều kiện thực tế ở địa phương:
"Việt Nam có chính sách rất rõ ràng về tiêu chuẩn của những chợ, những quầy bán thịt. Ví dụ, bàn phải cao bao nhiêu so với mặt đất, cấu trúc ra sao, để góp phần bảo đảm được an toàn thực phẩm. Tuy nhiên, trong thực tế khi chúng tôi đi làm nghiên cứu hoặc thăm các chợ truyền thống thì phần lớn ở các chợ, người ta chưa chấp hành những quy định của nhà nước về an toàn thực phẩm. Với một cái thực hành trên diện rộng như thế thì kỳ vọng mọi người đều thay đổi một cách toàn diện ngay lập tức là rất khó và không thực tế, trong hoàn cảnh Việt Nam và các nước đang phát triển nói chung.
Chính vì thế, khi triển khai những chính sách như thế này, tôi nghĩ là phải cần một sự can thiệp đồng bộ và phải có sự hỗ trợ từ phía nhà nước để nâng cấp các chợ sao cho có điều kiện vệ sinh tốt hơn, có cấu trúc hạ tầng tốt hơn, chẳng hạn phải có hệ thống nước cho người ta rửa tay, hoặc là phải tập huấn cho những hộ bán thịt biết thực hành vệ sinh như thế nào cho tốt.
Chúng tôi có đề xuất những can thiệp như một cái kiềng ba chân, tức là khi muốn cải thiện điều kiện an toàn thực phẩm ở các chợ truyền thống ở Việt Nam, đặc biệt là các quầy bán thịt heo, thì có ba vấn đề. Thứ nhất, nói gì thì nói, chúng ta phải có những điều kiện và cơ sở vật chất để người ta thực hành được vệ sinh, tức là phải có quầy bán thịt bằng những mặt inox để việc lau rửa được thuận tiện. Thứ hai là phải có nước, có xà phòng sát khuẩn. Thứ ba là chúng ta phải tập huấn thực hành vệ sinh tốt cho những người bán thịt ở các quầy chợ đó. Khi mọi người, người tiêu dùng, người bán thịt, người chăn nuôi, nhìn thấy cái lợi trong hành động của mình thì tất cả mọi thứ sẽ tốt lên.
Cuối cùng, những nhà làm chính sách và những nhà quản lý các chợ đó hoặc ở cấp địa phương cũng phải tạo điều kiện cho những người bán thịt cũng như những người tham gia chuỗi sản xuất và người tiêu dùng có điều kiện thực hành
Tất cả những quy định pháp luật đó phải phù hợp với điều kiện thực tế ở địa phương. Bởi vì nếu mà chúng ta đặt ra những quy định quá cao, không phù hợp với điều kiện thực tế và thiên nhiều hơn vào việc phạt những người làm sai, thì đó không phải là một giải pháp có thể áp dụng được rộng rãi và làm thay đổi được gốc rễ hiện tại của an toàn thực phẩm ở Việt Nam." - Tổng thống Mỹ Donald Trump có sẽ đến thăm sân golf mang tên ông ở Hưng Yên vào năm 2027 nhân Hội nghị APEC tại Phú Quốc tháng 11? Dự án sẽ kịp hoàn thành đúng thời điểm, do đang bị chậm tiến độ vì bất đồng giữa người dân và chính quyền về giải phóng mặt bằng? Sân golf Khoái Châu - Trump International Hưng Yên, trị giá khoảng 1,5 tỷ đô la, được cho sẽ góp phần tăng trưởng du lịch hạng sang - lĩnh vực được Việt Nam tập trung đầu tư từ nhiều năm nay.
Trong 9 năm liên tiếp (2017-2025), Việt Nam được World Golf Awards vinh danh là “Điểm đến golf tốt nhất châu Á” và hai lần được trao danh hiệu “Điểm đến golf tốt nhất thế giới” năm 2019 và 2021. Doanh thu từ du lịch golf tăng gần gấp đôi trong vòng 3 năm, từ 600 triệu đô la năm 2022 lên hơn 1 tỷ đô la năm 2025. Cho dù hiện chiếm khoảng 2,7% tổng doanh thu du lịch quốc gia, theo cục trưởng Cục Du Lịch Việt Nam, nhưng các nhà hoạch định quyết định biến golf thành động lực mới đưa du lịch Việt Nam vươn tầm quốc tế. Số sân golf sẽ tăng lên thành 200 vào năm 2030, hơn gấp đôi so với con số 80 sân đạt chuẩn quốc tế hoạt động năm 2025.
Ông Spencer Robinson, trưởng bộ phận Truyền thông, Liên đoàn Golf Châu Á - Thái Bình Dương, cũng bất ngờ trước những mục tiêu đầy tham vọng của Việt Nam khi trả lời hãng tin Mỹ AP : “Hành trình quả là đáng kinh ngạc khi Việt Nam đạt được những thành tựu như hiện nay trong một thời gian ngắn. Tôi đi khắp thế giới và mọi người đều nói về sự phát triển của golf ở Việt Nam. Tôi nghĩ có thể nói đây là thị trường golf sôi động nhất thế giới hiện nay. Rất nhiều kiến trúc sư sân golf muốn đến đây, các nhà sản xuất gậy golf, bất cứ ai trong ngành công nghiệp golf đều rất quan tâm, vì họ thấy sự phát triển của Việt Nam. Họ nghe nói chính phủ muốn xây dựng thêm 100 sân golf nữa trong 5, 10 năm tới”.
Đọc thêmDu lịch Việt Nam đủ nguồn lực chuyên môn cao để hướng đến khách “giàu” ?
Du lịch golf thúc đẩy kinh tế địa phương
Trong chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2030, du lịch golf được xác định “là một sản phẩm du lịch cao cấp, một ngành kinh tế văn hóa thể thao du lịch tổng hợp đóng góp vào tăng trưởng xanh, phát triển vùng và quảng bá hình ảnh quốc gia”. Việt Nam đặt mục tiêu xây dựng chuỗi điểm đến golf mang bản sắc Việt Nam, đào tạo nhân lực, tổ chức sự kiện quốc tế. Thế mạnh của Việt Nam là có hơn 3.000 km đường bờ biển và cảnh quan đa dạng, được coi là những điều kiện tự nhiên lý tưởng cho một sân golf đẹp, thú vị trên địa hình nhấp nhô.
Các khu vực sân golf được trải dài từ bắc xuống nam và phát triển mạnh mẽ ở miền trung với lợi thế về địa hình kết hợp đồi núi và biển, như trường hợp sân golf Hoiana Shores, theo giải thích của tổng giám đốc Wee Peng Siong : “Nhà thiết kế sân golf Robert Trent Jones, Jr. đã sử dụng khẩu hiệu “Bản giao hưởng của golf”, có nghĩa là mọi thứ đều hòa quyện với thiên nhiên và nhịp điệu của thiên nhiên. Giống như một bản giao hưởng vậy. Dựa trên ý tưởng đó, người chơi golf có thể quan sát các cồn cát và địa hình, độ nhấp nhô của nó. Tất cả đều được bố trí một cách tỉ mỉ”.
Dù đi sau nhiều nước về du lịch golf nhưng Việt Nam đang rút ngắn khoảng cách trong thời gian rất ngắn, một phần nhờ thu hút được những tên tuổi lớn trong lĩnh vực kiến trúc golf thế giới (Like Donald, Colin Montgomerie, Sir Nick Faldo, Greg Norman và Robert Trent Jones Jr., hiện nằm trong trong liên minh Việt Nam Golf Coast, VGC). Hệ thống gồm BRG Danang Golf Resort, Montgomerie Links, Ba Na Hills, Laguna Lăng Cô và Hoiana Shores đã giúp Đà Nẵng - Hội An được vinh danh là “Thành phố golf tốt nhất châu Á 2025”. Ngoài ra, để tiếp tục khẳng định thương hiệu và nâng vị thế của du lịch golf Việt Nam, huyền thoại golf người Úc Greg Norman tiếp tục được bổ nhiệm làm đại sứ Du lịch Việt Nam nhiệm kỳ 2025-2030.
Theo bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Việt Nam, khách chơi golf có mức chi tiêu trung bình gấp 6 lần so với khách thường. Để đáp ứng nhu cầu của khách, xung quanh sân golf là một khu phức hợp dịch vụ, khách sạn sang trọng, nhà hàng, spa và thương mại cao cấp, theo nhận định của Nguyễn Đức Long, một người chơi golf : “Họ (Hoiana) có 4 khách sạn, hơn 1.000 phòng, đầy đủ cơ sở vật chất về golf để cho mình có một gói trải nghiệm khác hơn so với những sân khác. Vì ngành golf phát triển như vậy thì chắc chắn đây là một lựa chọn rất là thú vị để mọi người có thể tới trải nghiệm”.
Đọc thêmHưng Yên muốn giảm tiền đền bù trong dự án sân golf của Trump Organization
Không chỉ chơi golf, họ còn có nhu cầu trải nghiệm du lịch tại điểm đến. Và đây là điểm giúp thúc đẩy nền kinh tế địa phương, góp phần tạo việc làm, đặc biệt là ở các khu vực ngoài các trung tâm đô thị lớn, theo nhận định của ông Vũ Nguyên, tổng thư ký Hiệp hội Golf Việt Nam (VGA) :
Khi một sân golf được phát triển ở một địa phương, nó giúp thúc đẩy nền kinh tế tại địa phương đó và cũng sẽ tạo ra hàng ngàn việc làm. Chính vì vậy, những năm gần đây, golf được đón nhận rất nhiều. Những khu vực xung quanh sân golf, các hệ thống từ nhà hàng cho đến khách sạn cũng được phát triển và giúp cho ngành du lịch nói chung.
Đứng đầu số lượng khách nước ngoài đến du lịch golf tại Việt Nam năm 2025 là Trung Quốc (3,8 triệu lượt, tăng 43% nhờ chi phí hợp lý và khoảng cách địa lý gần), tiếp theo là Hàn Quốc (3,2 triệu lượt, đóng góp lớn nhất vào doanh thu cao cấp). Ngoài ra còn có du khách golf Úc, Nhật Bản, Đài Loan, cùng với lượng khách mới nổi từ châu Âu và Ấn Độ. Việt Nam cũng muốn trở thành điểm đến không thể thiếu của khoảng 1,9 triệu golf thủ di chuyển trên toàn cầu hàng năm.
Ngoại giao sân golf
Bên cạnh giá trị kinh tế và du lịch, golf còn được sử dụng làm công cụ ngoại giao, đặc biệt là dưới thời tổng thống Mỹ Donald Trump. Sean Fergusson, thư ký golf và kinh doanh tại "Fore" Business (Anh), được trang Franceinfo trích dẫn, phân tích :
Donald Trump tận dụng những cơ hội này để truyền đạt thông điệp đến người đối thoại. Và các chính trị gia khác nghĩ rằng nếu họ có thể gặp ông ấy trong một buổi chơi golf, ông Trump có thể sẵn sàng thảo luận về những chủ đề mà ông ấy sẽ không nói trước ống kính máy quay.
Nhật Bản là một ví dụ tiêu biểu về khai thác “ngoại giao golf” trong quan hệ với Mỹ. Ngày 11/02/2017, khoảng hai tuần sau khi ông Trump nhậm chức tổng thống, thủ tướng Shinzo Abe đến Florida, cùng chơi golf 18 hố nhằm củng cố quan hệ song phương vì ông Trump luôn chỉ trích đồng minh Đông Á chi ít cho quốc phòng. Sau buổi chơi, ông Trump cho biết đã “hiểu” thủ tướng Abe hơn. Sau khi ông Abe mất, Tokyo từng nhờ tỉ phú Masayoshi Son, nhà sáng lập kiêm tập đoàn công nghệ SoftBank và là bạn chơi golf thân thiết của ông Trump, để tiếp cận ông. Thủ tướng đương nhiệm Takaichi còn tặng tổng thống Trump một cây gậy golf của cố thủ tướng Abe.
Đọc thêmDự án tỷ đô tại quê nhà của tổng bí thư Tô Lâm, lá bài trói buộc Trump của Việt Nam ?
Trong nhiệm kỳ hiện nay, ông Trump thường xuyên “bàn đại sự” trên sân golf. Tổng thống Phần Lan Alexander Stubb, một người chơi golf, trở thành “cầu nối” giữa tổng thống Mỹ và châu Âu. Chơi golf với ông Trump được xem là nằm trong “vòng thân cận” với lãnh đạo Mỹ. Việt Nam chưa có cơ hội này. Tuy nhiên, ít ngày trước ngày lễ nhậm chức của tổng thống thứ 47, bà Nguyễn Thị Phương Thảo, chủ tịch hãng hàng không Vietjet, đến tư dinh Mar-a-Lago và được ông Trump hướng dẫn chơi golf. Chuyến đi được công bố là hoạt động của Vietjet nhưng không rõ có nhận được sự ủy nhiệm nào đó từ chính quyền hay không.
Nông dân trả phí cho ngoại giao sân golf Trump International Hưng Yên ?
Liệu sân golf ở quê hương tổng bí thư-chủ tịch nước Tô Lâm có thể trở thành cầu nối với chính quyền Trump ? Tháng 09/2024, trong thời gian tranh cử tổng thống, ông Donald Trump dự lễ ký thỏa thuận hợp tác xây dựng giữa Trump Organization với Tổng công ty Phát triển đô thị Kinh Bắc (KBC) tại Florida. Tháng 06/2025, bản kê khai tài chính của tổng thống Donald Trump ghi nhận khoản thu 5 triệu đô la từ nhượng quyền thương hiệu.
Giới quan sát cho rằng dự án trở thành phương tiện ngoại giao của Hà Nội trong bối cảnh tổng thống Trump liên tục chỉ trích thặng dư thương mại của Việt Nam với Mỹ, lên mức kỷ lục 178,2 tỷ đô la năm 2025 (chỉ sau trung Quốc) và đe dọa tăng thuế. Khi mức thặng dư đạt 55 tỷ đô la năm 2019, Việt Nam đã bị ông Trump gọi là “kẻ lạm dụng thương mại tồi tệ nhất”. Tuy nhiên, trả lời báo tài chính Anh Financial Times, nhà nghiên cứu Nguyễn Khắc Giang, Viện ISEAS-Yusof Ishak (Singapore), nhận định :
Tính biểu tượng là điều quan trọng nhưng nó sẽ không thể giải quyết tất cả những mối quan ngại cũng như những vấn đề mang tính cơ cấu giữa Việt Nam và Mỹ.
Sân golf Trump International Hưng Yên được khởi công chiều 21/05/2025 với sự tham dự của thủ tướng Phạm Minh Chính cùng quan chức chính phủ, đại sứ Mỹ tại Việt Nam Marc E. Knapper và ông Eric Trump, con trai tổng thống Trump, phó chủ tịch Trump Organization cùng phu nhân. Theo báo Chính phủ, “dự án khu phức hợp đô thị, du lịch sinh thái và sân golf Khoái Châu có diện tích gần 1.000 ha và tổng mức đầu tư trên 1,5 tỷ đô la, bao gồm hệ thống sân golf VIP 54 hố, khu nghỉ dưỡng, biệt thự cao cấp, quần thể đô thị hiện đại và các tiện ích theo tiêu chuẩn quốc tế”.
Đọc thêmSân gôn Trump tại Việt Nam : Đất nông dân đổi lấy dự án gây tranh cãi
Tuy nhiên, sau một năm, dự án bị chậm tiến độ do vướng mắc về đền bù giải phóng mặt bằng. Nhiều hộ dân cho biết mức bồi thường 80.000 đồng/m2, cùng với 240.000 đồng/m2 để “chuyển đổi nghề” (tổng cộng 320.000/m2) là quá thấp, không như lời hứa “bồi thường thỏa đáng” của thủ tướng Phạm Minh Chính tại lễ động thổ. Một số hãng tin Reuters và Financial Times của Anh, Le Monde của Pháp, Bloomberg của Mỹ phản ánh bất bình của người dân trong diện giải tỏa, tranh cãi liên quan đến việc chính quyền tỉnh Hưng Yên cắt giảm chi phí bồi thường. Nhật báo Pháp Le Monde nhận được một bức thư nặc danh từ nội bộ chính phủ Việt Nam bày tỏ bất bình và nêu những nghi ngờ tham nhũng, quan hệ lợi ích nhóm trong dự án.
Sau khi không thực hiện được hạn chót là ngày 30/04 để thu hồi đất, tỉnh Hưng Yên thông báo cho các hộ dân trong diện giải tỏa là nếu không chấp hành yêu cầu bàn giao đất, họ sẽ phải đối mặt với rủi ro cưỡng chế từ sáng 26/06/2026. Hãng tin Mỹ Bloomberg tiếp cận được văn bản này. Chủ đầu tư cũng đẩy nhanh tiến độ vì trước đó, chủ tịch Tổng công ty Phát triển Đô thị Kinh Bắc tuyên bố sân golf Trump có thể đăng cai Hội nghị thượng đỉnh Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương - APEC năm 2027 và hy vọng tổng thống Trump tham dự. - Sôcôla là một món ăn nay đã quá quen thuộc với người Việt Nam, nhưng chắc là không có mấy ai hiểu rõ về nguồn gốc của hạt cacao làm nên sôcôla, về lịch sử phát triển của sôcôla, cũng như về những đặc tính của cacao được trồng tại Việt Nam. Chính là nhằm mục đích quảng bá những kiến thức về sôcôla và cacao mà ông Francesco Trần Văn Liêng, tổng giám đốc Công ty Cổ phần Ca cao Việt Nam (Vinacacao), đã lập ra La Maison du chocolat, Bảo tàng sôcôla Việt Nam.
Nằm tại Bình Hưng, ngoại ô Sài Gòn, với diện tích khoảng 4.000m², được khai trương vào tháng 4 vừa qua, La Maison du Chocolat trước hết đưa chúng ta trở về nguyên thủy của cây cacao ở vùng Trung Mỹ, được thể hiện qua bức tượng của một vị thần. Hướng dẫn chúng tôi trong một chuyến tham quan riêng, ông Francesco Trần Văn Liêng giải thích:
“Đây là thần Ek Chuah. Người Maya và ở Trung Mỹ tự hào đây là thánh phù hộ cho ngành ca cao của họ ngay từ đầu và thực chất thì cây ca cao xuất phát từ Trung Mỹ, nơi mà văn minh của người Maya cũng gắn liền với văn minh của cây ca cao. Họ tự hào đó là “food of the God”, “thực phẩm Trời cho”. Họ sống vui vẻ, hòa mình với thiên nhiên và xây dựng một xã hội khá vững vàng trên nền tảng là hạt cacao và văn hóa xung quanh hạt cacao đó.
Câu chuyện bắt đầu khi Christopher Columbus sang. Thứ nhất rõ ràng là Christopher Columbus đi với tư cách là hòa bình, nhưng thực sự cái hòa bình đó cũng ngắn hạn thôi. Thực tế là triều đình Tây Ban Nha gửi một đoàn quân sang và cuộc diệt chủng đầu tiên trên thế giới là diệt chủng người da đỏ và bây giờ người da đỏ đã tản mát ở Mêhicô, Honduras, thậm chí là ở Hợp chủng quốc Hoa Kỳ.
Nhưng hạt cacao không bị khuất phục, hạt cacao sang châu Âu để tái chinh phục người châu Âu. Lúc đầu nó được dùng trong giới quý tộc và tăng lữ thôi, tại vì hạt này ngon quá, khi ăn thì người ta cảm thấy hưng phấn, vui vẻ. Nhưng nó được giữ rất kín cho đến khi cha con Joseph Fry ở Anh bắt đầu làm ra thanh sôcôla đầu tiên. Khi làm được thanh sôcôla đầu tiên rồi thì giới bình dân mới tiếp cận. Và khi tiếp cận rồi thì nó bùng nổ thành một thức uống chinh phục cả châu Âu.”
Theo dòng lịch sử của hạt cacao, được tái hiện trên những bức tường, La Maison du chocolat đưa khách tham quan đến những quốc gia tiêu biểu của ngành sôcôla thế giới để hiểu được tính chất phong phú, đa dạng của sản phẩm này. Ông Francesco Trần Văn Liên cho biết:
“La Maison du chocolat cố gắng tái hiện lại những mẫu sôcôla thời xưa hoặc thời cận đại của các dân tộc trên thế giới. Ví dụ người Đan Mạch hay dùng “creamy milk”. Họ rất thích sữa, cho nên nhiều khi mình khó phân biệt là ăn sôcôla hay ăn sữa! Rồi tới praline của Bỉ. Người Bỉ thì rất hãnh diện là đã đưa hạt vào và làm cho sôcôla trở nên ngon hơn, thơm hơn và có nhiều dinh dưỡng hơn. Người Thụy Sĩ thì đặc biệt thích ăn sôcôla rất mịn. Và đây là thanh sôcôla đầu tiên mà mà gia đình người Anh nhà Fry làm. Ban đầu nó không ngon, đắng nghét, tại vì không có sữa.
Chúng tôi muốn khách tham quan hiểu được trên thế giới không phải chỉ có một cách ăn sôcôla, mà rất nhiều cách ăn. Ví dụ người Hà Lan có hot dark chocolate mà họ tự hào, nhưng phải là “pure”, tức là rất là tinh túy về hương vị sôcôla. Pháp cũng làm ra được praline giống như Bỉ, vì Pháp và Bỉ thì văn hóa gần nhau. Và trong thế giới ẩm thực của Pháp thì có quá nhiều sáng tạo. Đế quốc Ottoman là một đế quốc huy hoàng của Thổ Nhĩ Kỳ, nhưng họ thích ăn với pistachio, tức là hạt dẻ cười. Hạt dẻ cười cũng là một vật phẩm rất quý tại địa phương của họ. Ý thì tự hào là họ có Gianduja, pha sôcôla ới hạt hazelnut ( hạt phỉ ), ra một thương hiệu riêng đó là Gianduja.
Tôi muốn giới thiệu với anh khu vực Trung Mỹ. Đầu tiên, chữ "sokalat" là do người Maya đặt ra và họ cũng có một thức uống rất điển hình thời đó, cách đây ngàn năm. Lúc đó công nghệ đâu có mạnh để nghiền rất mịn đâu. Họ chỉ là đập dập ra là uống. Nhưng đó là một thức uống bồi bổ sức khỏe cho những binh lính da đỏ để chiến đấu rất mãnh liệt với người Tây Ban Nha.”
Đến với La Maison du chocolat, khách tham quan sẽ có dịp tìm hiểu về lịch sử của ngành cacao Việt Nam, để biết rằng loại cây này cũng chính là do người Pháp du nhập vào Việt Nam, theo lời ông Francesco Trần Văn Liêng:
“Đầu thế kỷ 20, khoảng năm 1900, có một người Pháp tên là Jean-Baptiste Louis Pierre đem cây ca cao vào Thảo Cầm Viên Sài Gòn cùng thời với cây cà phê và cây cao su. Khi đưa vào Thảo Cầm Viên thì thấy khá là ổn và ông tiếp tục phát triển ở đồng bằng sông Cửu Long, nơi có đất tốt, mưa nhiều, có nhiều tưới tiêu và và không có nhiều biến cố như bảo tố. Tại vì cây ca cao rất là cao, lá rất là to, gió nhiều nó sẽ gãy. Nhưng miền Nam cũng là vùng có nhiều chiến tranh, loạn lạc, người dân di cư rất nhiều, cho nên cây ca cao không phát triển mạnh vào đầu thế kỷ 20. Mãi tới khoảng năm 2000, người Hà Lan bắt đầu viện trợ lại cho nông dân đồng bằng sông Cửu Long để tái lập lại các vườn ca cao xen với vườn dừa.
Cây cacao thật ra là cây ăn trái, không phải là cây công nghiệp như cà phê. Cacao trước hết ra trái, trái phải được ủ, ủ xong mới lấy hạt để làm sôcôla. Để trái tốt thì đất phải tốt. Đồng bằng sông Cửu Long được xem là đất rất tốt. Và thứ hai là phải được tưới tiêu rất nhiều. Nhiều người lầm tưởng cây ca cao giống cà phê, nhưng thực sự nó rất là khác. Cây ca cao có thể sống tới 40 năm, thành cây cổ thụ rất lớn, như xoài, mít, mận, ổi. Đó lý do tại sao miền Nam có vẻ thích hợp hơn. Với lại cây cacao mà bị khí hậu lạnh thì nó chết. Gặp lạnh 18 độ thì nó sẽ đứng, rồi sau đó nếu nhiệt độ xuống nữa thì nó có thể bắt đầu rụng lá và chết.”
Bảo tàng sôcôla cũng lưu giữ những dấu ấn của doanh nghiệp người Bỉ Ghicha Safarian, người đã thành lập công ty Puratos Grand-Place Việt Nam, hoạt động tại Việt Nam từ năm 1994. Đến đầu năm 2011, Puratos Grand-Place Việt Nam đã ra mắt loại sôcôla đầu tiên được sản xuất hoàn toàn tại Việt Nam, từ khâu trồng ca cao cho đến thành phẩm cuối cùng. Cho đến nay, đây là nhà sản xuất đầu tiên tại Việt Nam tích hợp chuỗi cung ứng ca cao vào quy trình sản xuất của mình. Nhưng so với những “cường quốc cacao” như Côte d’Ivoire và Ghana, thế mạnh của cacao Việt Nam là ở những mặt nào, ông Francesco Trần Văn Liêng giải thích:
“Hiện nay Côte d’Ivoire và Ghana ở Phi Châu vẫn chiếm khoảng 75% sản lượng hạt cacao trên thế giới. Nhưng Côte d’Ivoire và Ghana thì ít sông ngòi và ít màu mỡ, cho nên hạt cacao có mùi hương nutty ( hương hạt dẻ ), như mùi gỗ, mùi mật ong, cũng ngon. Nhưng cacao socola Việt Nam được trồng ở đồng bằng, đất tốt mưa nhiều, phù sa, cho nên hạt to hơn, cơm bao nhiều hơn và hậu vị hơi chua ngọt, giống như cà phê arabica thì hơi chua một chút, cho nên nó mang tính chất fruity và độ thơm của nó thì cũng phản ánh vùng đất.
Cho nên cacao Việt Nam có khuynh hướng dùng để làm sôcôla, còn cacao của Côte d’Ivoire và Ghana thì có khuynh hướng nghiền ra để làm bột. Tóm lại, cacao Việt Nam nổi bật hơn ở những điểm sau đây: fruity, mùi sôcôla nhiều hơn, học hỏi được cách lên men của Bỉ cho nên cho vị men thơm hơn, nhưng bù lại thì sản lượng thấp hơn và vì diện tích canh tác ít thành ra sự phát triển chậm chạp hơn. Thống trị trên thế giới về số lượng vẫn là Côte d’Ivoire và Ghana. Nhưng nhiều người làm chocolate boutique ở Bỉ, Pháp, Hà Lan mua hạt cacao của Việt Nam để làm hương vị riêng của họ. Giá của hạt cacao Việt Nam luôn giữ cao bởi vì cũng có nhu cầu.
Riêng Vinacacao có những dòng sản phẩm rất dễ ăn, như là cốm gạo Hà Nội, sôcôla ngọt, hoặc là sôcôla yaourt. Ngoài hữu cơ ( organic ), dòng sản phẩm của Vinacacao còn được gọi là single origin, tức là 100% sôcôla ở Việt Nam. Giống như rượu vang Pháp, nho trồng ở đâu thì nó quyết định vị ngon của nó. Hiện nay Vinacao phát triển dòng mạnh nhất vừa là hữu cơ, vừa có lợi cho sức khỏe, tức là không dùng đường.
Ngoài sôcôla thì Vinacacao phát triển rất nhiều dòng sản phẩm bột để dễ uống, chỉ cần pha với cà phê thôi. Đặc biệt là sản phẩm này kết hợp với Hà Lan để ra một dòng bột tương đối cao cấp cho thị trường Việt Nam và cho xuất khẩu. Ở Việt Nam bây giờ cũng có nhiều khách sạn năm sao và khu nghỉ dưỡng resort tìm cái loại bột cacao chất lượng để làm bánh."
Khách tham quan đến với La Maison du chocolat còn được tận mắt nhìn thấy cây cacao được trồng trong vườn, hạt cacao được ủ như thế nào, được phơi ra sao. Mọi người cũng sẽ có dịp thưởng thức những sản phẩm được chế biến từ cacao Việt Nam, trong đó có cả những thức uống. Đây cũng là nơi mà người lớn và trẻ em có thể đến để tự tay chế biến những thanh sôcôla, còn các trường có thể gởi học sinh đến trong những buổi học ngoại khóa để các em tìm hiểu về thực phẩm đầy thú vị này. - "Bộ Công An là cơ quan có ảnh hưởng lớn nhất tại Việt Nam. Trong bộ máy Nhà nước, cảnh sát và các cơ quan tình báo được coi là những công cụ chủ yếu để bảo tồn chế độ". Bộ Công An cũng được lợi nhất trong cuộc cải cách hành chính 2025, do ông Tô Lâm khởi xướng. Nhìn chung, bộ Công An đang tăng cường tự chủ so với bộ Quốc Phòng, một đối thủ lớn trong phát triển công nghiệp và kinh tế.
Vai trò của bộ được tăng cường trong nhiều lĩnh vực, mở rộng sang hoạt động kinh tế, truyền thông (MobiFone), mua sắm trang thiết bị… Từ cuối năm 2025, vai trò của bộ Công An còn được mở rộng ra quy mô thế giới, thể hiện qua Đối thoại 3+3 với Trung Quốc, bao gồm quan chức ngoại giao, quân sự và công an.
Đây là phần giải thích : “Bộ Công An đóng vai trò chính trị như thế nào tại Việt Nam?” nằm trong 100 câu hỏi trong cuốn sách mới Le Việt Nam. Au carrefour d'une nouvelle Asie. En 100 questions (Việt Nam : Giữa ngã ba của một châu Á mới) của giám đốc nghiên cứu Benoît de Tréglodé, Viện Nghiên cứu Chiến lược của Trường Quân sự Pháp (IRSEM).
Nhà nghiên cứu Benoît de Tréglodé trả lời một số câu hỏi của RFI Tiếng Việt.
RFI : Tháng 05/2026, ông đã xuất bản cuốn sách mới có tựa đề, tạm dịch Việt Nam : Giữa ngã ba của một châu Á mới. Trong 100 câu hỏi. Trong phần giới thiệu, ông viết :
Có một thỏa ước ngầm đang định hình mối quan hệ giữa Nhà nước-đảng và xã hội : làm giàu cá nhân được khuyến khích với điều kiện người dân không tham gia vào lĩnh vực chính trị. Gần đây hơn, chế độ đã xây dựng thêm phần thứ hai cho khế ước xã hội này : Nhà nước-đảng bảo đảm an ninh, với cái giá là tăng cường kiểm soát xã hội.
Có thể nhận thấy ở đây có hai ý nghĩa : “an ninh” và “tăng cường kiểm soát xã hội”. Vậy trước tiên, “an ninh” đang được chính quyền hiện tại diễn giải như thế nào? “An ninh” đóng vai trò gì trong chính sách nhà nước hiện nay ?
Benoît de Tréglodé : Câu hỏi này gắn với một sự kiện diễn ra tại Hà Nội vào đầu tháng 6, khi tổng bí thư Tô Lâm có buổi làm việc với bộ trưởng Công An Lương Tam Quang. Trong cuộc gặp này, ông nhấn mạnh rằng quá trình phát triển của nền kinh tế Việt Nam, với mục tiêu tăng trưởng hàng năm ít nhất 10% - con số gây ấn tượng thực sự - trong nhiệm kỳ 2026-2031, phải đi đôi với việc xây dựng một xã hội có trật tự, kỷ luật, an toàn và phát triển.
Theo định hướng đó, bảo đảm an ninh cho quá trình chuyển đổi và phát triển kinh tế của Việt Nam được đặt song hành với việc tăng cường an ninh. Đây không phải là một chi tiết nhỏ. Trong thời gian gần đây, hơn 5.000 camera ứng dụng trí tuệ nhân tạo đã được lắp đặt tại Hà Nội để giám sát an ninh, giao thông và người dân. Cách đây vài ngày, lực lượng An ninh Nhân dân đã nhận Huân chương sao vàng lần thứ tư. Đây là huân chương cao quý nhất, phần thưởng danh dự nhất, ghi nhận những đóng góp và thành tích của lực lượng công an Việt Nam trong lĩnh vực quốc phòng và trật tự công cộng.
Vì vậy, thực tế hiện nay là ban lãnh đạo tại Việt Nam, với hạt nhân là ông Tô Lâm, nguyên là tướng công an, cùng các cộng sự thân cận, hầu hết là từ lực lượng công an, xác định công an và an ninh là trụ cột trung tâm trong nhiệm kỳ của tân tổng bí thư-chủ tịch nước Việt Nam.
RFI : Yếu tố thứ 2 là “tăng cường kiểm soát xã hội”. Hiện tại chúng ta có thể rút ra ghi nhận gì từ điều này ?
Benoît de Tréglodé : Đây không phải là một hiện tượng hoàn toàn mới. Thực tế, việc tăng cường kiểm soát xã hội và người dân đã diễn ra song hành với tiến trình mở cửa của Việt Nam kể từ khi chính sách Đổi mới được khởi xướng. Năm 2026, Việt Nam kỷ niệm 40 năm thực hiện chính sách mở cửa kinh tế. Ở đây có thể rút ra hai nhận định đáng chú ý.
Thứ nhất, Việt Nam đã không ngừng mở rộng và đa dạng hóa các quan hệ kinh tế, chính trị với bên ngoài. Bên cạnh những đối tác truyền thống như Trung Quốc hay các nước ASEAN, mạng lưới đối tác quốc tế của Việt Nam ngày càng phong phú và rộng lớn hơn.
Thứ hai, quá trình mở cửa kinh tế từ cuối những năm 1980 đã làm dấy lên những lo ngại trong giới lãnh đạo Việt Nam về nguy cơ tác động đến sự ổn định xã hội, cũng như sự gắn kết của giới trẻ với hệ thống. Vì vậy, đối với họ, mở cửa phải luôn đi đôi với kiểm soát và kỷ luật tập thể. Chính cách tiếp cận này lý giải tại sao hai yếu tố này - quá trình phát triển kinh tế và tăng cường kiểm soát - luôn đi liền với nhau.
Tiếp theo đó, chúng ta thấy vai trò của lực lượng công an ngày càng được củng cố trong bộ máy nhà nước Việt Nam. Xu hướng này trở nên rõ nét hơn sau Đại hội đảng Cộng Sản lần thứ XIII cách đây 5 năm và đặc biệt kể từ khi ông Tô Lâm tiếp tục củng cố quyền lực tại Đại hội Đảng XIV vào đầu năm nay, đồng thời giữ hai chức vụ chủ tịch nước và tổng bí thư đảng Cộng Sản Việt Nam.
Như vậy, lực lượng an ninh được đặt vào vị trí trung tâm trong chiến lược phát triển kinh tế của đất nước, với việc siết chặt kiểm soát trật tự xã hội thông qua hàng loạt công cụ pháp lý.
Tiêu biểu là Luật An ninh mạng nổi tiếng, được hai bộ Công An Trung Quốc và Việt Nam cùng nhau suy nghĩ để soạn thảo, có hiệu lực ngày 01/01/2019, cùng với việc tăng cường hợp tác song phương trong lĩnh vực an ninh mà giới lãnh đạo Việt Nam đánh giá đặc biệt hiệu quả.
RFI : Phải chăng công việc này đã có thể thực hiện được là nhờ bộ Công An ? Trong cuốn sách, ông đề cập ở câu hỏi số 41 đến “vai trò chính trị” của bộ này. Vậy cụ thể “vai trò chính trị” đó là gì ?
Benoît de Tréglodé : Có hai điểm đáng chú ý. Thứ nhất, đó là việc ông Tô Lâm cùng các cộng sự từng công tác tại bộ Công An hiện đang nắm giữ nhiều vị trí quan trọng trong bộ máy nhà nước Việt Nam. Tuy nhiên, điều đáng quan tâm hơn là dần dần, thông qua các hoạt động liên quan đến công chúng, chủ quyền, an ninh và thậm chí cả đối ngoại, vai trò ngày càng nổi bật của chủ thể chính trị mới trong bộ máy nhà nước Việt Nam đã được thể hiện rõ : lực lượng cảnh sát và công an.
Tôi lấy một ví dụ rất cụ thể là quan hệ song phương giữa Việt Nam với Trung Quốc, hoặc với Nga, Lào, Cam Bốt, hoặc một số nước láng giềng khác. Trước đây, các cuộc trao đổi song phương thường được tổ chức theo cơ chế 2+2 với đại diện từ bộ Ngoại Giao và Quốc Phòng. Tuy nhiên, trong vài tháng gần đây, cơ chế này đã được mở rộng thành 3+3, trong đó bộ Công An tham gia với vị thế ngang hàng với hai bộ trên. Điều đó có nghĩa là trong các cuộc gặp giữa Việt Nam và Trung Quốc nhằm thảo luận các vấn đề song phương, bên cạnh các nhà ngoại giao và đại diện quân đội, lực lượng công an của hai nước cũng tham gia vào quá trình trao đổi và xử lý các vấn đề chung.
Việc đưa lực lượng công an tham gia ở cấp độ này phản ánh sự thay đổi trong bộ máy lãnh đạo Việt Nam. Rõ ràng là lãnh đạo Việt Nam đang trực tiếp nhấn mạnh vai trò chính trị quan trọng của lực lượng công an.
RFI : Cuốn sách cũng nêu “Việc làm giàu cá nhân được khuyến khích với điều kiện người dân không tham gia chính trị”. Tại sao điều này lại quan trọng đối với Nhà nước-đảng ? Liệu thực tế được mô tả trong câu hỏi 30 (Tại sao người Việt Nam lại nói nhiều về tiền bạc?) có phải là cơ sở để thực hiện chính sách “giữ người dân tránh xa chính trị” hay không ?
Benoît de Tréglodé : Trong cuốn sách, tôi nhiều lần trở lại với vấn đề này, bởi vì đây là một điểm then chốt để hiểu được sự tồn tại lâu dài của đảng Cộng Sản Việt Nam trong khoảng 40 năm qua.
Đó là quá trình chuyển đổi từ một hệ tư tưởng mang tính giáo điều được du nhập từ bên ngoài - ở đây tôi sử dụng từ “giáo lý” (catéchisme) - vốn trong một thời gian dài được thể hiện qua chủ nghĩa Mác - Lênin dưới những hình thức được du nhập, điều chỉnh và thích nghi với bối cảnh văn hóa Việt Nam, sang một mô hình gần gũi hơn với xu hướng phát triển của các xã hội phương Tây hiện nay, đó là chủ nghĩa tư bản tự do. Mô hình này, đôi khi được thúc đẩy rất mạnh mẽ và dần dần trở thành một dạng “giáo lý chính trị” mới đối với đảng Cộng Sản Việt Nam.
Như Đặng Tiểu Bình từng nói ở Trung Quốc năm 1979 : Kinh doanh làm giàu cho dân tộc, làm giàu cho người dân và làm rạng danh đất nước. Ngày nay, câu nói này có thể nghe không mới, nhưng vào đầu những năm 2000, đây vẫn là vấn đề gây nhiều tranh luận. Tại phiên họp toàn thể của Ban Chấp hành Trung ương khóa IX năm 2002, lần đầu tiên đảng Cộng Sản Việt Nam chấp nhận việc đảng viên có thể sở hữu doanh nghiệp tư nhân, tham gia hoạt động kinh doanh, đồng thời vẫn duy trì tư cách đảng viên. Kể từ đó, kinh doanh trở thành một yếu tố quan trọng trong văn hóa phát triển của Việt Nam, bao gồm cả hoạt động kinh doanh trong khu vực tư nhân và khu vực Nhà nước.
Đó thực sự là “cơn địa chấn” đầu tiên bắt đầu từ đầu thế kỷ XXI và xu hướng này tiếp tục được củng cố. Năm 2025, Bộ Chính Trị đảng Cộng Sản Việt Nam ban hành Nghị quyết 68 về phát triển kinh tế tư nhân. Đây là một trong những văn kiện quan trọng, trong đó lần đầu tiên vai trò của khu vực kinh tế tư nhân được khẳng định rõ ràng là một trong những động lực quan trọng hàng đầu của nền kinh tế quốc gia.
Như vậy, trọng tâm của quá trình chuyển đổi đã thay đổi trong vòng 40 năm qua.
Hiện nay, đảng Cộng Sản Việt Nam hiểu rằng sự tồn tại lâu dài, bền vững và tương lai của đảng phụ thuộc vào sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam, vào khả năng kinh doanh, làm giàu của người dân và theo đuổi vấn đề đó, chứ không phải là quan tâm đến chính trị.
RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn giám đốc nghiên cứu Benoît de Tréglodé, Viện Nghiên cứu Chiến lược của Trường Quân sự Pháp (IRSEM). - Trong bối cảnh phát triển du lịch bền vững ngày càng trở thành ưu tiên của nhiều quốc gia, Tổ chức Quốc tế Pháp ngữ - Organisation internationale de la Francophonie (OIF) - đang triển khai tại Việt Nam dự án “Điểm đến Sinh thái Tài năng” - Destination Eco-Talent - với mục tiêu kết hợp đào tạo nghề, tạo việc làm cho thanh niên và phụ nữ tại các địa phương, đồng thời thúc đẩy các mô hình du lịch cộng đồng gắn với bảo tồn văn hóa và bảo vệ môi trường.
Trả lời phỏng vấn đài RFI Tiếng Việt, bà Adjara Diouf, điều phối viên của chương trình Thúc đẩy Du lịch Bền vững của OIF chia sẻ về những chia sẻ về những mô hình đang được thử nghiệm tại Việt Nam, các thách thức trên thực địa cũng như tiềm năng của du lịch bền vững trong không gian Pháp ngữ.
Adjara DIOUF : Tổ chức Quốc tế Pháp ngữ đã khởi động dự án Điểm đến Sinh thái Tài năng vào năm 2024 tại bốn quốc gia : Cabo Verde, Cam Bốt, Comores và Việt Nam. Mục tiêu tổng thể của dự án là góp phần vào khả năng hồi phục và trao quyền cho người dân, đặc biệt là cho giới trẻ và phụ nữ, để giải quyết các thách thức về môi trường, khí hậu, kinh tế và xã hội.
Dự án này, được gọi là Điểm đến Sinh thái Tài năng (Eco-Talent), nhằm mục đích tạo ra việc làm và cơ hội thu nhập cho thanh niên, phụ nữ và cộng đồng dân cư sống ở nông thôn và các vùng ven đô thị.
Chương trình tập trung vào khả năng tìm việc làm và phát triển nghề nghiệp của người lao động thông qua các sáng kiến giáo dục và đào tạo, hướng tới các nghề trong ngành du lịch bền vững, đồng thời hỗ trợ phát triển và quảng bá các sản phẩm du lịch bền vững. Chương trình cũng nhấn mạnh đến sự phối hợp và kết nối các nỗ lực trong phát triển du lịch bền vững.
Tại sao lại là Việt Nam ? Đơn giản là vì, trước hết, chúng tôi có văn phòng đại diện khu vực của Tổ chức Quốc tế Pháp ngữ (OIF) tại Việt Nam. Vì vậy, việc bắt đầu với quốc gia này là hoàn toàn hợp lý, đặc biệt là vì trụ sở cơ quan của tôi và nhóm điều phối đều được đặt tại Việt Nam.
Hơn nữa, Việt Nam là một đất nước tuyệt vời với nhiều tiềm năng trong lĩnh vực du lịch bền vững và du lịch nói chung.
RFI : Trong giai đoạn thực hiện, OIF đã phát triển các sáng kiến và mô hình đổi mới nào để thúc đẩy du lịch bền vững ?
Adjara DIOUF : Có thể coi dự án Điểm đến Du lịch Sinh thái này là một sáng kiến đổi mới. Thứ nhất, dự án này của OIF triển khai một mô hình đổi mới kết hợp du lịch bền vững và đào tạo.
Dự án được triển khai với sự hợp tác của một số trường đại học của Việt Nam, như Đại học Hà Nội, hay Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh … Mô hình này đề xuất các chương trình đào tạo chuyên ngành, tích hợp với hoạt động thực tiễn. Như vậy sinh viên có thể áp dụng lý thuyết vào thực tiễn, qua đó có sự hỗ trợ trực tiếp và cụ thể cho các cộng đồng dân cư.
Dự án này cũng tích hợp các chương trình đào tạo nghề trong lĩnh vực du lịch, nhằm thúc đẩy hội nhập nghề nghiệp cho những thanh niên có hoàn cảnh khó khăn, ví dụ như ở các tỉnh.
Đào tạo và giáo dục về du lịch bền vững là rất cần thiết. Bởi vì đào tạo nghề trong lĩnh vực du lịch bền vững có thể nâng cao nhận thức của giới trẻ về tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường và trên hết, giúp họ tìm được con đường hướng tới việc làm và hội nhập.
Thứ hai, dự án này hỗ trợ phát triển các tuyến du lịch trải nghiệm thực tế. Ví dụ các sáng kiến du lịch cộng đồng với nghề làm nón lá ở Tri Lễ hoặc nghề đan lát ở Bao La, Huế. Những sáng kiến này hoàn toàn do cộng đồng ở địa phương quản lý. Khi loại bỏ các bên trung gian, người dân biến những kỹ năng của họ thành những trải nghiệm tạo ra thu nhập thực sự.
Việc các địa phương nắm được chuỗi giá trị như vậy sẽ tạo ra 3 tác động : về kinh tế, thông qua việc tạo ra việc làm ; về xã hội, thông qua việc trao quyền cho phụ nữ và thanh niên; và về môi trường và văn hóa, thông qua việc bảo tồn di sản. Chính bằng cách này, Tổ chức Quốc tế Pháp ngữ (OIF) mang lại thêm giá trị thực sự, thông qua việc điều phối các đối tác sử dụng tiếng Pháp tham gia vào các sáng kiến này.
Hơn nữa, việc sử dụng tiếng Pháp thông qua giao tiếp và thậm chí cả việc học những điều cơ bản về ngôn ngữ cũng mang lại cho các cộng đồng ở địa phương thêm một lợi thế cạnh tranh. Nói cách khác, đây là một mô hình độc nhất, trong đó du lịch bền vững vừa trở thành một công cụ hội nhập kinh tế, vừa trở thành một phương tiện quảng bá cho khối Pháp ngữ tại Việt Nam.
Và cuối cùng, để củng cố 2 hướng chủ đạo nói trên, tức là đào tạo và hỗ trợ phát triển các tuyến du lịch, OIF dự kiến mở một trung tâm Điểm đến Du lịch Sinh thái tại Việt Nam trong năm 2026. Trung tâm này sẽ được thiết kế như một trung tâm đa năng thực thụ, với nhiều bên tham gia để thúc đẩy du lịch bền vững.
RFI : Bà có thông điệp gì gửi đến những thanh niên muốn tham gia vào lĩnh vực du lịch bền vững ?
Adjara DIOUF : Đây là một câu hỏi thú vị. Trước hết, ai cũng biết rằng du lịch bền vững có tác động mạnh mẽ đến sự phát triển kinh tế và xã hội, bởi vì tạo ra nhiều việc làm trực tiếp và gián tiếp cho thanh niên, đặc biệt là ở các vùng nông thôn và vùng sâu vùng xa. Do nhiều thanh niên và các bên liên quan ở địa phương chưa được thông tin đầy đủ về những cơ hội mà du lịch bền vững mang lại, nên điều cần thiết là phải nâng cao nhận thức và thông tin cho họ về tiềm năng của lĩnh vực này, khuyến khích họ hướng tới lĩnh vực việc làm đầy triển vọng này. Du lịch bền vững có thể thúc đẩy việc làm mới, tạo ra những nghề nghiệp mới và bồi dưỡng tài năng mới cho giới trẻ.
Tôi cũng có một số thông điệp khác. Như chúng ta đã biết, khu vực châu Á có sự đa dạng văn hóa rất lớn, với nhiều nền văn hóa, truyền thống và ngôn ngữ khác nhau, và tôi nghĩ rằng việc hiểu rõ những đặc điểm riêng này là rất quan trọng để tạo ra các sáng kiến du lịch bền vững và tôn trọng cộng đồng địa phương. Du lịch bền vững cũng làm nổi bật văn hóa địa phương, khuyến khích giới trẻ trở thành đại sứ cho di sản của chính địa phương mình.
Đây cũng là một nguồn cơ hội cho giới trẻ, ví dụ như những người muốn khởi nghiệp, phát triển các giải pháp sáng tạo trong lĩnh vực du lịch, bằng cách sử dụng công nghệ mới, để nâng cao trải nghiệm du lịch - họ rất giỏi trong lĩnh vực này - phát triển các sản phẩm du lịch mới, đồng thời bảo vệ môi trường.
Và tôi muốn nói thêm rằng tiếng Pháp cũng là một công cụ mạnh mẽ để hội nhập xã hội trong khu vực này. Thành thạo tiếng Pháp làm tăng khả năng tìm việc làm và mức thu nhập cho giới trẻ làm việc trong ngành du lịch.
RFI : Tổ chức Quốc tế Pháp ngữ (OIF) có kết nối Việt Nam với các nước Pháp ngữ khác để chia sẻ kinh nghiệm không, và theo ý kiến của bà, những kinh nghiệm quốc tế nào có thể được áp dụng hiệu quả tại Việt Nam?
Adjara DIOUF : Vâng, đây chính là hoạt động tiếp theo mà chúng tôi sẽ thực hiện. Hiện tại, chúng tôi đang trong giai đoạn thí điểm, và bước tiếp theo là kết nối các quốc gia hưởng lợi từ giai đoạn thí điểm để họ có thể trao đổi và chia sẻ kinh nghiệm tốt nhất.
Mặt khác, Việt Nam rất mạnh về du lịch cộng đồng và có thể truyền cảm hứng cho các quốc gia nói tiếng Pháp khác. Cũng có những kinh nghiệm từ các nơi khác có thể được áp dụng tại Việt Nam. Ví dụ, kinh nghiệm quản lý các công viên quốc gia của Canada là rất đáng khích lệ. Việc áp dụng hạn ngạch khách tham quan, hệ thống đặt chỗ, các quy định nghiêm ngặt và giáo dục môi trường giúp bảo tồn hệ sinh thái. Ví dụ, kiểu sáng kiến này có thể được áp dụng tại các địa điểm rất nổi tiếng vào những thời điểm nhất định trong năm, khi lượng khách du lịch rất đông, để hạn chế tác động của du lịch đại chúng.
Một sáng kiến khác cũng cho phép giải quyết đáng kể vấn đề rác thải, đặc biệt là rác từ sản phẩm nhựa dùng một lần, vẫn còn rất phổ biến ở nhiều địa điểm du lịch. Nhìn vào các ví dụ từ các quốc gia khác như Pháp, Maroc và Rwanda, tôi nghĩ rằng có thể giải quyết đồng thời các vấn đề này để dần dần giảm thiểu việc sử dụng nhựa thông qua các chính sách công và cũng khuyến khích các nhà quản lý địa điểm áp dụng các tiêu chuẩn môi trường thông qua các chứng nhận như Nhãn hiệu Điểm đến xuất sắc.
Dự án TRILAF và làng nghề nón lá Tri Lễ
Trong số các dự án được OIF hỗ trợ, ví dụ có dự án Tri Lễ - nghề thủ công và tình đoàn kết Pháp ngữ vì một tương lai bền vững - gọi tắt là TRILAF, một sáng khiến do Khoa Ngôn ngữ và Văn hóa Pháp, trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Quốc gia Hà Nội, triển khai, hướng tới việc kết nối bảo tồn nghề thủ công truyền thống với phát triển du lịch cộng đồng bền vững. Tri Lễ là một làng nằm ở huyện Thanh Oai cũ, hiện nay thuộc xã Dân Hòa, cách trung tâm thành phố Hà Nội khoảng 30 km.
Trả lời phỏng vấn đài RFI Tiếng Việt, tiến sĩ Đàm Minh Thủy, trưởng khoa Ngôn ngữ và Văn hóa Pháp, trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Quốc gia Hà Nội, cho biết :
« Điểm đặc biệt của dự án là có sự tham gia của nhiều bên, cụ thể là có sự tham gia của chính quyền địa phương, của người dân, của doanh nghiệp du lịch và sinh viên, cùng giảng viên của trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội, qua đó hình thành một hệ sinh thái hợp tác gắn kết giữa giáo dục, văn hóa và phát triển kinh tế.
Và chúng tôi cũng đặc biệt vui mừng khi định hướng của dự án thì hoàn toàn phù hợp với quy hoạch tổng thể của thủ đô Hà Nội « Tầm nhìn 100 năm », trong đó nhấn mạnh việc bảo tồn làng nghề gắn với phát triển du lịch nông thôn như là một trụ cột quan trọng để gìn giữ bản sắc văn hóa và thúc đẩy kinh tế địa phương. Và chúng tôi tin tưởng rằng là với sự đồng hành của chính quyền, của cộng đồng và các đối tác, Tri Lễ sẽ từng bước trở thành một mô hình tiêu biểu về phát triển làng nghề gắn với du lịch bền vững và góp phần lan tỏa giá trị của văn hóa Việt Nam trong nước và quốc tế.
Trường Đại học Ngoại ngữ Đại học Quốc gia Hà Nội giữ vai trò trung tâm trong dự án. Nhà trường là đơn vị khởi xướng ý tưởng này, xây dựng này và phát triển dự án cùng với các đối tác địa phương và cộng đồng pháp ngữ. Và đồng thời, chúng tôi cũng đảm nhiệm vai trò là điều phối chung và triển khai các hoạt động của dự án, thông qua khoa Pháp, trường Đại học Ngoại ngữ Đại Quốc gia Hà Nội huy động các giảng viên, sinh viên cùng với các đối tác học thuật và các doanh nghiệp nhằm đồng hành cùng với làng Tri Lễ trong việc bảo tồn di sản văn hóa và phát triển du lịch cộng đồng bền vững.
Trong dự án, chúng tôi tổ chức rất nhiều hoạt động ở tập huấn về du lịch bền vững, du lịch cộng đồng, sản xuất xanh và kinh tế tuần hoàn, hay trang trí nón lá, kỹ năng đón tiếp khách du lịch và ngoại ngữ. Thông qua đó, chúng tôi mong muốn góp phần quảng bá làng nghề, với các hoạt động trung gian, văn hóa và sản xuất nội dung số, xây dựng tour du lịch và hợp tác quốc tế.
RFI : Vậy sinh viên có vai trò gì trong sự án ?
TS. Đàm Minh Thủy : Về vai trò của sinh viên và giảng viên trong dự án, có thể nói sinh viên Pháp ngữ, cụ thể là sinh viên tiếng Pháp của khoa chúng tôi thì giữ vai trò trung tâm trong dự án Trilaf. Các em không chỉ là người được hưởng lợi từ dự án, mà còn là những tác nhân tích cực và đồng kiến tạo các hoạt động trong dự án. Cụ thể TRILAF tạo nên một môi trường học tập rất là thực tiễn, bổ ích, nơi mà sinh viên có thể vận dụng các kiến thức tiếng Pháp kiến thức về truyền thông du lịch và đóng vai trò là trung gian văn hóa và ứng dụng tất cả những kiến thức, cũng như là kỹ năng của các em, vào tình huống thực tế.
Ví dụ sinh viên du lịch thì được tham gia khảo sát thực địa nghiên cứu về các tiềm năng du lịch của làng này và của nghề làm nón lá truyền thống, hoặc là các em cũng tham gia những cái cuộc thi về sáng tạo video để quảng bá cho làng nghề và trực tiếp gặp gỡ, học hỏi và trao đổi, trò chuyện cùng với người dân địa phương để có thể hiểu hơn về làng, cũng như về nghề làm nón lá.
Sinh viên truyền thông thì xây dựng những kế hoạch hay những sản phẩm truyền thông để quảng bá dự án thông qua việc sản xuất nội dung số, hay là quản lý trang mạng xã hội và có hoạt động tôn vinh văn hóa. Bên cạnh hai đối tượng, hai nhóm sinh viên này, chúng tôi cũng huy động các sinh viên ở trong khoa để tham gia tích cực vào việc tổ chức các buổi tập huấn cho người dân.
Một số em có thể trực tiếp hỗ trợ các hoạt động sáng tạo, như trang trí nón lá, và thông qua tất cả những hoạt động này thì sinh viên có thể phát triển kỹ năng về nghề nghiệp, kỹ năng về tổ chức, năng lực giao tiếp liên văn hóa, cũng như tinh thần trách nhiệm xã hội và sự thấu hiểu thực tế của địa phương và góp phần vào những hoạt động về cộng đồng. Chúng tôi nghĩ rằng là đây là những chìa khóa, là những hành trang quan trọng để sinh viên có thể dễ dàng tìm được những công việc phù hợp trong tương lai.
Đối với giảng viên thì dự án cũng tạo điều kiện để phát triển các phương pháp giảng dạy liên ngành, gắn thực tiễn xã hội và cộng đồng. TRILAF góp phần tăng cường mối liên hệ giữa đào tạo nghiên cứu và phục vụ cộng đồng.
Đây chính là 3 hướng mà chúng tôi muốn kết hợp với nhau ở trong bối cảnh đào tạo đại học hiện nay. Đồng thời, dự án cũng mở ra nhiều cơ hội hợp tác quốc tế, hợp tác giữa nhà trường và doanh nghiệp mở ra những hướng nghiên cứu ứng dụng trong các lĩnh vực du lịch bền vững, giáo dục liên văn hóa và Pháp ngữ học.
RFI : Dự án TRILAF có thể mang lại lợi ích gì cho làng nghề nón lá Tri Lễ ?
TS. Đàm Minh Thủy : Trên thực tế chúng tôi cũng đã triển khai rất nhiều hoạt động và những hoạt động này cũng mang lại những lợi ích cho người dân Tri Lễ. Trước hết là dự án TRILAF có những tác động tích cực về mặt kinh tế, xã hội và văn hóa cho người dân Tri Lễ, thông qua việc tôn vinh nghề làm nón lá truyền thống.
Chúng ta đều biết nón lá truyền thống là một di sản văn hóa quan trọng của Việt Nam. Và nón lá truyền thống thì được sản xuất tại rất nhiều các làng nghề hay là các vùng miền khác nhau của Việt Nam, và ở mỗi một vùng miền hay làng nghề thì có những cái đặc trưng riêng. Tuy nhiên, hiện nay, với sự phát triển của cuộc sống hiện đại, chúng ta cũng không thể phủ nhận rằng là nón lá ngày càng bị mai một.
Ví dụ như là ở làng Tri Lễ còn rất nhiều hộ gia đình làm nghề làm nón lá. Tuy nhiên, khi chúng tôi đến làm việc và khảo sát thì thấy rằng đa số là phụ nữ, cũng có cả nam giới nhưng là những người đã nhiều tuổi, từ khoảng 50-60 tuổi trở lên, thậm chí có những người 80 tuổi vẫn làm. Còn thanh niên và những người trong độ tuổi lao động thì họ đi làm những nghề khác. Thế nên, chúng tôi nghĩ rằng có nguy cơ về sự mai một của nghề truyền thống thủ công.
Chính vì vậy, chúng tôi cũng cố gắng xây dựng các hoạt động về truyền thông, hay quảng bá về du lịch thông qua những hoạt động về đào tạo, để các sản phẩm của làng ngày càng được khách du lịch trong và ngoài nước biết nhiều hơn. Dự án cũng góp phần cải thiện đời sống của người dân Tri Lễ, thông qua phát triển du lịch cộng đồng với các hoạt động như là đón tiếp khách tham quan, hay là trình diễn nghề thủ công truyền thống, hoặc là tổ chức những trải nghiệm văn hóa và tham quan làng nghề.
Những hoạt động này sẽ giúp đa dạng hóa kinh tế địa phương và mở ra nhiều cơ hội về nghề nghiệp mới. Đặc biệt là dự án TRILAF quan tâm nhiều và đối tượng hưởng lợi chủ yếu là phụ nữ và thanh niên, những lực lượng giữ vai trò quan trọng cho các hoạt động thủ công và du lịch của làng.
Chúng tôi tổ chức các khóa tập huấn về du lịch bền vững, về truyền thông, về kỹ năng đón tiếp khách du lịch, hay những sáng tạo thủ công trang trí nón lá, để giúp người dân nâng cao những kỹ năng của mình, để phát huy nghề truyền thống và tăng cường khả năng tự chủ kinh tế. Chúng tôi tin tưởng rằng về lâu dài thì dự án cũng sẽ khuyến thích được nhiều người trẻ quay trở lại với quê hương để tham gia và phát triển địa phương, gìn giữ các tri thức truyền thống.
Cuối cùng thì TRILAF hướng tới việc xây dựng Tri Lễ thành một mô hình du lịch bền vững và đoàn kết, dựa trên 3 nền tảng chính : bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể, nâng cao năng lực cộng đồng địa phương và phát triển các hoạt động du lịch thân thiện với môi trường.
RFI : Dự án TRILAF có kết nối được với các doanh nghiệp du lịch để phát triển du lịch cho làng nghề nón lá Tri Lễ ?
TS. Đàm Minh Thủy : Như tôi đã nói thì trong dự án này có sự phối hợp chặt chẽ giữa các bên, đó là chính quyền địa phương, trường Đại học ngoại ngữ Đại Quốc gia Hà Nội và các doanh nghiệp du lịch.
Đối với các doanh nghiệp du lịch thì chúng tôi cũng đã có rất nhiều buổi trao đổi thảo luận. Một số đại diện của các công ty du lịch cũng cùng với chúng tôi đến làm việc với địa phương, trước hết là tập huấn cho người dân về du lịch cộng đồng, du lịch bền vững và những đặc điểm của khách du lịch Pháp hay là khách sử dụng Pháp ngữ.
Đồng thời, các đơn vị lữ hành cũng hỗ trợ dự án, xây dựng những tour du lịch và tư vấn cho địa phương, cũng như cho dự án những phương án thiết kế tour, hay là những điều kiện về cơ sở vật chất và cơ cấu tổ chức để có thể đón khách du lịch.
Chúng tôi hi vọng từ giờ đến cuối cuối năm các công ty du lịch cũng sẽ gửi được những đoàn khách du lịch đầu tiên để đến làng nghề Tri Lễ.
Qua trao đổi với giám đốc của công ty Horizon Travel, một công ty cũng tương đối lớn về du lịch và đặc biệt là có một số lượng khách Pháp rất lớn, chúng tôi cũng được biết công ty đã tổ chức rất nhiều đoàn tour đến làng Chuông, một làng nón lá cũng đã rất phát triển. Thậm chí là mỗi năm riêng công ty này có thể tổ trước khoảng 500 tour du lịch đến làng Chuông.
Sau khi khảo sát ở làng Tri Lễ thì công ty Horizon Travel cũng đánh giá rất cao tiềm năng của làng Tri Lễ, cũng như của xã Dân Hòa, bởi vì những đặc điểm nghề làm nón lá thủ công truyền thống ở Tri Lễ rất là phong phú và hiện nay việc sản xuất nón lá vẫn hiện hữu trong từng gia đình. Ngôi làng cũng rất đẹp, với những đường bờ đê hay những ngôi nhà cổ, và những người dân, thậm chí đến 80-90 tuổi, vẫn ngồi đan nón lá. Đó là những tiềm năng rất tốt.
Và ngay bên cạnh làng Tri Lễ thì là làng Ước Lễ nổi tiếng với nghề làm giò chả, với những cổng làng rất đẹp và có truyền thống, hay là những địa danh khác của xã Dân Hòa. Chúng tôi đánh giá tiềm năng về du lịch rất là phát triển và cũng có thể thu hút được nhiều khách du lịch trong thời gian tới.
Bản thân công ty Horizon Travel cũng đã cam kết với chúng tôi rằng sẽ đưa làng Tri Lễ vào chương trình tour của mình. Ngoài công ty này, chúng tôi cũng đã trao đổi với một số doanh nghiệp du lịch khác và họ đều rất ủng hộ, sẵn sàng tham quan khảo sát và xây dựng những tuyến tour ở làng Tri Lễ.
Über Tạp chí Việt Nam
Những vấn đề, sự kiện đang được dư luận quan tâm ở Việt Nam
Podcast-Website