Partner im RedaktionsNetzwerk Deutschland
Radio Logo
Der Stream des Senders startet in {time} Sek.
StartseitePodcastsNachrichten
TẠP CHÍ VIỆT NAM

TẠP CHÍ VIỆT NAM

Podcast TẠP CHÍ VIỆT NAM
Podcast TẠP CHÍ VIỆT NAM

TẠP CHÍ VIỆT NAM

hinzufügen

Verfügbare Folgen

5 von 24
  • Nguy cơ Lào vỡ nợ, Việt Nam lo
    Trong chuyến công du từ ngày 24-29/07/2022, bộ trưởng Tài Chính Lào đã “đề nghị Việt Nam cử chuyên gia sang giúp Lào tháo gỡ khó khăn về tài chính, tiền tệ và cải cách doanh nghiệp”. Cuộc khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng tại Lào đang khiến Việt Nam lo lắng vào lúc trong năm 2022, hai nước kỉ niệm 60 năm thiết lập quan hệ ngoại giao (05/09/1962) và 45 năm Ngày ký Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác (18/07/1977). Lào đang đối mặt với một trong những cuộc khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng nhất từ nhiều năm qua : Lạm phát tăng 23,6% trong tháng 6, mức tăng cao nhất từ 22 năm qua ; các mặt hàng thiết yếu như xăng dầu, khí đốt đều tăng thêm ít nhất gần 70%. Trung Quốc là chủ nợ chính của Lào, chiếm gần một nửa khối nợ nước ngoài 14,5 tỉ đô la (chiếm 66% GDP), theo báo cáo của Ngân Hàng Thế Giới vào tháng 04/2022. Với nhiều dự án đầu tư cơ sở hạ tầng trong khuôn khổ Sáng Kiến Một Vành Đai Một Con Đường (BRI), Lào đang ngả theo Trung Quốc. Tuy nhiên, Việt Nam luôn cố gắng duy trì ảnh hưởng tại nước láng giềng vì những lý do kinh tế và địa chính trị. Trên đây là nhận định của nhà nghiên cứu Vũ Xuân Khang, trường Đại học Boston (Boston College, Hoa Kỳ), khi trả lời RFI Tiếng Việt ngày 04/08/2022. ******* RFI : Trang Facebook Thông tin Chính phủ Việt Nam ngày 26/07/2022 cho biết là bộ trưởng Tài Chính Lào, nhân chuyến công du Việt Nam, đã đề nghị Việt Nam cử chuyên gia sang giúp Lào tháo gỡ những khó khăn về tài chính, tiền tệ. Xin anh giải thích một chút về cuộc khủng hoảng mà Lào đang trải qua hiện nay. Cuộc khủng hoảng này ảnh hưởng đến Việt Nam như thế nào ?   Vũ Xuân Khang : Theo tôi, cuộc khủng hoảng này có hai nguyên nhân chính. Nguyên nhân thứ nhất là do những biến động về kinh tế và chính trị toàn cầu hiện nay, tức là do cuộc chiến ở Ukraina và việc Mỹ nâng lãi suất chỉ đạo rất lớn trong thời gian vừa rồi. Điều này đã khiến giá xăng dầu tăng lên trên toàn cầu. Đồng kip của Lào đã rớt giá rất nhiều, đặc biệt khi so sánh tháng 09/2021, 9.300 kip Lào đổi được một đô la Mỹ thì bây giờ là 15.000 kip Lào mới đổi được một đô la Mỹ. Chính việc đồng kip Lào bị rớt giá khiến cho khủng hoảng nợ công trầm trọng thêm rất nhiều bởi vì nước này nợ đô la, riêng với Trung Quốc là 6 tỉ đô la. Nếu nhìn xa hơn, nguyên nhân thứ hai là do chính quyền Lào, trong những năm gần đây, đặc biệt là từ năm 2010 đến 2016, đã sử dụng và vay nợ rất nhiều từ nước ngoài, đặc biệt là Trung Quốc để xây dựng cơ sở vật chất trong nước. Dù vay rất nhiều, nhưng chính việc xử lý các khoản tiền và tham nhũng trong chính quyền Lào đã khiến những khoản nợ này không được tính toán cẩn thận và dẫn tới việc Lào có nguy cơ vỡ nợ. Các chuyên gia quốc tế đánh giá rằng Lào phải trả nợ mỗi năm 1,3 tỉ đô la Mỹ, từ giờ cho đến năm 2025, trong khi dự trữ ngoại hối của nước này chỉ còn hơn 1,2 tỉ đô la. Do đó, có thể thấy rằng việc Lào vỡ nợ chỉ còn là vấn đề thời gian nếu nước này không có những cải thiện về kinh tế hoặc xin Trung Quốc gia hạn gói nợ hoặc có những biện pháp giảm thiểu tham nhũng, cũng như quản lý những khoản vay nợ một cách hợp lý. Chính cuộc khủng hoảng này ở Lào ảnh hưởng rất lớn đến Việt Nam. Cần phải nói rằng Lào cũng là một nước nằm dưới sự lãnh đạo của một đảng Cộng sản. Việt Nam thì không muốn "đồng chí" của mình gặp khó khăn kinh tế vì những khó khăn kinh tế này có thể gây ảnh hưởng về sự ổn định chính trị-kinh tế của Lào. Gần đây những nhà nghiên cứu về Lào đã quan tâm xem thái độ của người dân đối với chính quyền Lào như thế nào. Họ nhận thấy rằng cuộc khủng hoảng lần này đã tạo ra rất nhiều phẫn nộ trong công chúng Lào khi mà nhiều người dân không còn che giấu sự bất mãn đối với chính quyền, họ thẳng tay lên mạng phê phán chính quyền. RFI : Tại sao Lào cần đến sự hỗ trợ của Việt Nam ? Thông qua việc này, Hà Nội có lấy lại được phần nào ảnh hưởng tại nước láng giềng không, trong khi Vientiane dường như ngả theo Trung Quốc trong những năm gần đây trong khuôn khổ Sáng Kiến Vành Đai và Con Đường (BRI) ?  Vũ Xuân Khang : Việc Lào cần đến sự hỗ trợ của Việt Nam chính là một điều rất bình thường. Tại vì trước đây, sau khi chính quyền Pathet Lào giành được chính quyền đất nước sau năm 1975, Việt Nam đã luôn luôn là một đồng minh rất thân cận, kể cả về kinh tế, chính trị cho Lào. Khủng hoảng lần này, nhờ cậy đến sự giúp đỡ của Việt Nam như là một thói quen đối với đất nước Lào. Chắc chắn rằng Việt Nam cũng mong muốn Lào không bị lung lay, ảnh hưởng đến sự tồn vong của chế độ Cộng sản. Lào cũng hiểu rất rõ điều này. Chính vì vậy Lào biết là Việt Nam luôn chống lưng cho Lào. Tuy nhiên, có một điều cần phải nói rõ, đấy là khả năng của Việt Nam giúp đỡ Lào không phải là nhiều. Nếu nhìn vào cân bằng kinh tế giữa Việt Nam và Trung Quốc, có thể thấy rõ là Việt Nam hoàn toàn không có cơ hội để có thể thực sự cạnh tranh sòng phẳng với Trung Quốc về mặt kinh tế. Việt Nam cũng hiểu rõ rằng những đồng tiền của Việt Nam hỗ trợ Lào, nhưng nếu nước bạn láng giềng không giải quyết được vấn đề tham nhũng và kiểm soát các nguồn tiền từ nước ngoài một cách hiệu quả, cho dù Việt Nam có ủng hộ Lào bao nhiêu tiền đi chăng nữa thì những đồng tiền đấy cũng sẽ chưa chắc giúp Lào vượt qua được khủng hoảng kinh tế hiện nay. Một điều nữa cần phải xem xét kỹ hơn, đó là chính Trung Quốc mới là chủ nợ của Lào. Việt Nam, suy cho cùng mặc dù là đồng minh thì cũng chỉ là một nước có thể hỗ trợ Lào, chứ không phải là người nắm chìa khóa để giải quyết được vấn đề kinh tế cho Lào 100%. Những năm gần đây, Trung Quốc đã gia tăng ảnh hưởng tại Lào với Sáng kiến Một Vành Đai Một Con Đường thì việc sớm hay muộn Trung Quốc có thể khiến Lào phụ thuộc nhiều hơn về kinh tế là một điều mà Việt Nam không thể nào mà có thể ngăn chặn được. Theo tôi nghĩ, Việt Nam có thể trợ giúp Lào về mặt kinh tế nhưng sự trợ giúp đó có thể giúp Lào tiếp tục trở thành đồng minh thân cận của Việt Nam hay không thì việc đó còn chưa rõ, tại vì phụ thuộc rất nhiều vào việc Trung Quốc có sẵn lòng hỗ trợ Lào hay không. Nếu Trung Quốc hỗ trợ Lào, chắc chắn là Việt Nam sẽ không có khả năng để cạnh tranh với Trung Quốc ở Lào về mặt kinh tế. RFI : Tuy nhiên, Việt Nam có sẵn sàng cạnh tranh ảnh hưởng đến cùng với Trung Quốc ở Lào không ?   Vũ Xuân Khang : Theo tôi nghĩ, thực ra Việt Nam không có lựa chọn nào khác cả. Nguyên nhân thứ nhất, đó là địa-chính trị Việt Nam không cho phép Lào hay Cam Bốt thuộc về Trung Quốc. Có thể thấy là ở Việt Nam, phần miền Trung rất hẹp và Lào đã nằm sát biên giới với miền trung của Việt Nam. Chỉ cần Lào thuộc về một nước nào khác, đặc biệt như là Trung Quốc, nếu có chiến tranh xảy ra thì Việt Nam hoàn toàn có thể bị tấn công từ mạn sườn và có thể bị chia cắt đất nước ra làm hai như thời Chiến tranh Việt Nam. Chính y thế, dù không có chút khả năng nào để cạnh tranh với Trung Quốc về kinh tế nhưng Việt Nam không cho phép là Lào có thể ngả theo phía Trung Quốc. Do đó, mặc dù biết là về lâu về dài, ảnh hưởng của Việt Nam tại Lào có thể sẽ suy yếu nhưng mà Việt Nam bắt buộc vẫn sẽ phải cạnh tranh với Trung Quốc. Đặc biệt nhìn trong 2 năm gần đây, Việt Nam đã tặng Lào một nhà Quốc Hội rất mới, hơn 100 triệu đô la Mỹ và đã giúp Lào xây dựng một số tuyến đường để nối từ Lào đến cảng Vũng Áng hay nối từ Vientiane với thủ đô Hà Nội. Nhưng những sự trợ giúp về kinh tế này cũng chỉ thể hiện là Hà Nội vẫn mong muốn Lào tiếp tục là một đồng minh thân cận của Việt Nam. Nhưng về lâu về dài, có thể thấy những sự trợ giúp này hoàn toàn không thể nào cạnh tranh được với ảnh hưởng kinh tế đang lên của Trung Quốc tại Lào. RFI : Năm 2022, hai nước kỉ niệm 60 năm thiệt lập quan hệ ngoại giao, truyền thông Việt Nam vẫn nói là “an ninh của Lào là an ninh của Việt Nam”. Xin anh giải thích mối quan hệ hợp tác đặc biệt về mặt quốc phòng giữa hai nước ?   Vũ Xuân Khang : Theo tôi nhận thấy, quan hệ Việt Nam với Lào về căn bản là để bảo vệ an ninh cho Việt Nam, như câu mà chính phủ Việt Nam hay nói là “an ninh của bạn cũng là an ninh của mình” hay là “an ninh của Lào cũng là an ninh của Việt Nam”. Điều này thể hiện Việt Nam mong muốn không có một quốc gia nào có thể sử dụng Lào làm bàn đạp tấn công Việt Nam. Nếu nhìn rộng hơn, thực ra từ thời Chiến tranh Việt Nam, chính quyền Hà Nội đã trực tiếp cạnh tranh ảnh hưởng với Trung Quốc ở Lào rồi. Và Việt Nam cũng đã hỗ trợ chính quyền Pathet Lào rất nhiều trong thời gian chống lại chính quyền Vương quốc Lào với mục tiêu cuối cùng là để sử dụng được Lào như là một phần của tuyến đường mòn Hồ Chí Minh để giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Chính quan hệ thân mật về quốc phòng từ trước năm 1975 này đã tạo tiền đề để hai nước ký Hiệp định Hữu nghị và Hợp tác năm 1977, qua đó Việt Nam có thể giúp Lào trở thành một đồng minh thân cận và trực tiếp bảo vệ Lào khỏi những cuộc tấn công của Trung Quốc. Cần lưu ý rằng vào năm 1979, khi Trung Quốc tấn công biên giới của Việt Nam vào tháng 2 thì Trung Quốc cũng đã tấn công biên giới của Lào. Mặc dù Việt Nam gặp rất nhiều khó khăn khi vừa phải tấn công Khmer Đỏ ở Cam Bốt, vừa phải phòng thủ Trung Quốc ở biên giới phía bắc, Việt Nam vẫn sẵn lòng gửi hơn 40.000 quân bảo vệ Lào khỏi sự đe dọa từ các phần tử chống Cộng sản ở trong nước và Trung Quốc. Chính sự hợp tác về quốc phòng lâu năm này đã tạo ra một sự tin cậy chính trị rất vững chắc với nhau. Và cần phải lưu ý rằng Việt Nam bảo vệ Lào, không chỉ bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ của Nhà nước Lào mà còn bảo vệ cho sự lãnh đạo của đảng Cộng sản Lào khi mà đảng Cộng sản Việt Nam và đảng Cách mạng Nhân dân Lào là hai đảng anh em đã có truyền thống lâu đời để hỗ trợ lẫn nhau. Chính tầm quan trọng về địa-chính trị của Lào đối với Việt Nam khiến Việt Nam ưu tiên Lào là nước đồng minh duy nhất mà Việt Nam ký hiệp định. Mặc dù chính quyền Hà Nội đã nói rất nhiều lần là Việt Nam hoàn toàn không muốn tham gia liên minh nào hoặc là dùng lãnh thổ của nước này để tấn công chống lại nước khác, nhưng mà trong trường hợp của Lào, có thể thấy là Việt Nam đã hoàn toàn tạo ra một ngoại lệ cho chính sách “4 Không” của Việt Nam. Và cần phải nói rõ hơn là so với Biển Đông thì Lào quan trọng hơn những đảo ở Hoàng Sa và Trường Sa tại vì, mặc dù Hoàng Sa và Trường Sa có thể quan trọng với Việt Nam nhưng hai quần đảo này hoàn toàn không có ảnh hưởng đối với sự tồn vong của đất nước. Trái với Lào, đất nước này hoàn toàn có thể quyết định đến vận mệnh tồn tại của Việt Nam trong tương lai. Điều này có thể thấy là Việt Nam sẵn sàng ưu tiên Lào là một đồng minh quân sự và sẵn sàng ủng hộ Lào bằng tất cả những gì ở Việt Nam có thể ủng hộ. RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn nhà nghiên cứu Vũ Xuân Khang, Đại học Boston (Boston College), Hoa Kỳ.
    8/8/2022
    9:39
  • Hành trình không ngơi nghỉ của “Kiều Chinh - Nghệ sĩ lưu vong”
    Trong giới nghệ sĩ Việt Nam ở hải ngoại, có thể là không có người nào mà sự nghiệp nghệ thuật đầy những thăng trầm và kéo dài như nữ tài tử Kiều Chinh. Cuộc đời của ngôi sao điện ảnh sinh vào năm 1937 tại Hà Nội đã trải qua cùng với nhiều biến động của đất nước, kể từ khi bà bước vào nghệ thuật thứ bảy vào thập niên 1950 cho đến năm 1975, khi Sài Gòn thất thủ, phải sang Hoa Kỳ tị nạn và sống lưu vong cho tới nay. Nhưng ở xứ người, Kiều Chinh không chỉ tiếp tục con đường của một nghệ sĩ, mà bà còn là một nhà hoạt động xã hội hết mình không chỉ với đồng hương, mà với mọi thân phận bất hạnh. Cuộc đời với biết bao diễn biến đầy kịch tính như trong một cuốn tiểu thuyết đã được Kiều Chinh tái hiện trong cuốn hồi ký “ Kiều Chinh - Nghệ sĩ lưu vong”. Cuốn sách đã được phát hành tại Hoa Kỳ từ tháng 9 năm 2021 bằng hai ấn bản tiếng Việt và tiếng Anh. Theo dự kiến ấn bản tiếng Pháp sẽ ra mắt độc giả vào khoảng tháng 9 hoặc tháng 10 năm nay.  Hôm nay, chúng tôi rất hân hạnh được tiếp chuyện qua điện thoại với nữ tài tử Kiều Chinh, một nữ diễn viên mà tên tuổi đã gắn liền với nền điện ảnh Việt Nam từ bao thập niên và có lẽ là nữ tài tử người Việt được làng điện ảnh Hollywood biết đến nhiều nhất.  RFI: Xin chào chị Kiều Chinh. Thưa chị trước khi nói về cuốn hồi ký mà bản tiếng Pháp sẽ ra mắt độc giả trong nay mai, xin được hỏi là hiện giờ chị có tiếp tục có những sinh hoạt trong giới văn hóa nghệ thuật, cũng như các hoạt động xã hội?  Kiều Chinh: Thưa Thanh Phương, mình cứ tưởng về già sẽ có nhiều thời gian ở nhà làm vườn, trồng cây cảnh. Nhưng không biết tại sao số phận Kiều Chinh càng già càng quá bận rộn! Thứ nhất, sau khi cuốn hồi ký ra đời, Kiều Chinh được đón nhận ở khắp mọi nơi, cho nên phải đi ra mắt sách ở khắp các tiểu bang trên đất Mỹ, ở các thành phố bên Canada. Hiện giờ Kiều Chinh vẫn còn đang đóng phim, vừa đi thành phố Kentucky, Louisville đóng phim hai tuần lễ, mới về cách đây hai ngày và còn hai dự án làm phim, tháng 10 sẽ qua Úc để đóng phim một tháng, thành ra rất là bận rộn.  Ngoài việc đóng phim và ra mắt sách, lại còn những hoạt động xã hội, cộng đồng nữa. RFI: Hiện nay chị vẫn tiếp tục đi các nơi để giới thiệu cuốn hồi Ký " Kiều Chinh - Nghệ sĩ lưu vong", cho thấy độc giả, ít ra là tại Hoa Kỳ, đã đón nhận nồng nhiệt cuốn sách này? Kiều Chinh: Vâng, xin lỗi lại nói về “le moi” ( cái tôi ), mà “le moi est haissable” ( cái tôi thì đáng ghét ). Nhưng theo lời nhà Đinh Quang Anh Thái, nhà sách Tự Lực, đây là một cuốn sách “make history”, tức là cuốn sách thành công nhất trong lịch sử làm sách ở Hoa Kỳ, bởi vì mới ra mắt có mấy tháng mà đã có mấy ngàn ấn bản phát hành khắp mọi nơi. Những buổi ra mắt sách rất thành công. Thật sự thì cuộc đời của Kiều Chinh cũng giống cuộc đời của hàng triệu người Việt Nam lưu vong trên thế giới, ai cũng có một câu chuyện để kể lại. Kiều Chinh chỉ là một trong hàng triệu câu chuyện đó, nhưng có được may mắn là cuốn sách " Kiều Chinh - Nghệ sĩ lưu vong" được đón nhận rất là nồng nhiệt. RFI: Thưa chị Kiều Chinh, chị đã đặt tên cho cuốn hồi ký là “Kiều Chinh - Nghệ sĩ lưu vong”. Như vậy đối với chị, quảng đời mà chị sống nơi đất khách quê người là thời gian mà có nhiều sự kiện, nhiều biến cố ghi dấu sự nghiệp, cũng như cuộc sống của chị? Kiều Chinh: Vâng. Thật sự thì cũng có những người không đồng ý với chữ “lưu vong”, nhưng đối với Kiều Chinh, khi mình không sống ở quê hương mình, thì đó là một sự lưu vong. Cuốn hồi ký, nhất là ấn bản tiếng Anh, được đón nhận rất là nồng nhiệt, vì Kiều Chinh nghĩ là sau cuộc chiến Việt Nam, sau 1975, đã có rất nhiều sách, phim ảnh nói về chiến tranh Việt Nam, về Việt Nam. Nhưng những sách và phim đó là từ point de vue ( quan điểm ) của người ngoại cuộc, qua con mắt của những người không phải là người Việt Nam, không phải là của những người đã sống ở Việt Nam. Còn Kiều Chinh là người sinh ra ở đất Bắc, lớn lên ở miền Nam và sống quá nửa đời người ở quê hương và đã trải qua ba cuộc chiến, từ thời Đệ nhị Thế chiến tới thời kỳ chiến tranh Đông Dương kết thúc, chứng kiến quân đội Pháp rời bỏ Việt Nam và quân đội Mỹ bắt đầu đi vào Việt Nam. Trong những năm tháng đó, mình giống như là những nhân chứng sống, mình là người trong cuộc, kể lại câu chuyện về lịch sử của quê hương. Mình cũng là một nghệ sĩ nữa, cho nên đã trải qua rất nhiều rất nhiều biến động của đất nước, cũng như đã được đi đây đi đó rất nhiều trong suốt thời gian làm diễn viên điện ảnh, đã đại diện cho điện ảnh miền Nam đi khắp các vùng Đông Nam Á và cũng được đóng phim ở khắp vùng Đông Nam Á, từ Philippines cho tới Singapore, Malaysia, Hồng Kông, Đài Loan và cả Ấn Độ nữa.  RFI: Thưa chị Kiều Chinh. Đúng là cuộc đời nghệ thuật điện ảnh của chị gắn liền với những thăng trầm của lịch sử đất nước, nhất là ở miền nam trong thời gian chiến tranh, cho nên chị đã có một vai diễn nhớ đời trong bộ phim nổi tiếng “ Người tình không chân dung”. Kiều Chinh: Phim “ Người tình không chân dung” hãng phim Giao Chỉ sản xuất. Hãng phim Giao Chỉ là của Kiều Chinh. Kiều Chinh là executive producer và diễn viên chính, phim do đạo diễn Hoàng Vĩnh Lộc viết cốt chuyện và dàn dựng. Đó cũng là cuốn phim đầu tiên dự đại hội điện ảnh ở Đài Loan và cuốn phim đầu tiên được hai giải thưởng tại sự kiện đó: giải cho phim chiến tranh và giải cho nữ diễn viên chính là Kiều Chinh.  Nếu có cuốn phim nào để lại cho Kiều Chinh nhiều kỷ niệm nhất thì có lẽ đó là phim “ Người Tình Không Chân Dung”, bởi vì phim không quay trong một phim trường, mà được quay “live” ở khắp các vùng có mặt trận. Thành ra Kiều Chinh đã có dịp gặp rất nhiều anh em. Phim đã để lại nhiều dấu ấn, đặc biệt là với hai nam diễn viên chính là anh Vũ Xuân Thông và anh Minh Trường Sơn. Với Kiều Chinh, đó là hai người bạn thân nhất trong đời thường. Mới đây là kỷ niệm 50 năm bộ phim đó, đài Jimmy TV ở Mỹ đã có một cuộc phỏng vấn dài với ba diễn viên chính và chúng tôi lại gặp nhau. Cuốn phim đã để lại nhiều kỷ niệm và cũng nhân đây cám ơn tất cả quý vị đã có cảm tình với phim “ Người Tình Không Chân Dung” trong 50 năm qua và cũng xin chắp tay tưởng nhớ biết bao nhiêu người trong phim đó đã ra đi.   RFI: Ngay từ thời gian còn đóng phim ở Việt Nam, chị cũng đã có dịp sang Mỹ và tiếp xúc với giới điện ảnh Hoa Kỳ. Từ khi phải rời Việt Nam để sang Mỹ sống chị đã có những vai diễn gì ưng ý nhất trong làng điện ảnh Hollywood, một môi trường mà thật ra không xa lạ lắm đối với chị, những vai diễn đánh dấu cuộc đời nghệ thuật của chị ở hải ngoại? Kiều Chinh: Lần đầu tiên Kiều Chinh qua Mỹ là vào năm 1968, khi có một hãng phim dự tính quay cuốn phim "Doctor Tom Dooley", họ mời Kiều Chinh sang Hollywood để sửa soạn, nhưng chẳng may là dự án đó không thành. Nhưng thời gian đó, qua đây Kiều Chinh cũng được mời tham dự bộ phim mà Kiều Chinh yêu thích vô cùng, đó là "Doctor Jivago" và cũng làm quen một vài nhân vật ở đây.  Còn phim nào để lại nhiều ấn tượng nhất cho Kiều Chinh? Nếu nói về TV thì phải nói đến chương trình MASH, show truyền hình đầu tiên Kiều Chinh được làm việc ở Hollywood. MASH là show nổi tiếng nhất thời đấy ở nước Mỹ và trên toàn thế giới, với đạo diễn là tài tử Alan Adam. Nếu nói về phim ảnh thì sau cuốn phim "The letter" với nữ tài tử Lee Remick thì phải nói đến phim của nhà văn Amy Tan "The Joy Luck Club" ( 1993 ). Bộ phim đã đưa Kiều Chinh đi khắp nơi trên nước Mỹ, cũng như là ở châu Âu để ra mắt phim. Đi đâu họ cũng nhận ra mình đóng trong phim "The Joy Luck Club"! RFI:  Đó là nói về lĩnh vực điện ảnh. Nhưng trong cuộc đời ghệ sĩ lưu vong, dường như là số phận cũng đã đưa đẩy chị đến các hoạt động xã hội, từ thiện, mà trên hết là những hoạt động trợ giúp cho đồng bào tị nạn Việt Nam tại Hoa Kỳ, nhất là trong những năm đầu tiên? Có lẽ chính những hoạt động đó đã làm cho cuộc sống nghệ thuật của chị thêm phong phú, thêm ý nghĩa? Kiều Chinh: Thưa Thanh Phương, đa số các thính giả biết Kiều Chinh là một nghệ sĩ đóng phim, thật sự công việc bận rộn thứ hai, ngoài đóng phim, Kiều Chinh còn là một diễn giả, đi gần như là khắp các trường đại học trên nước Mỹ để nói chuyện. Ngoài trường đại học, Kiều Chinh còn được đi rất nhiều ở rất nhiều tổ chức về văn hóa, phụ nữ và xã hội. Ở những nơi dừng chân để nói chuyện, Kiều Chinh cũng đã được gặp rất nhiều người.  Nhất là thời gian vào khoảng năm 1980, khi có sự hiện diện của thuyền nhân Việt Nam, Kiều Chinh đã bay sang Philippines cùng đệ nhất phu nhân Philippines Imelda Marcos để chào đón đồng bào thuyền nhân tại trại Palawan. Đồng thời Kiều Chinh cũng đi khắp các trại tị nạn ở Đông Nam Á, Hồng Kông, để thăm đồng bào tị nạn. Đó cũng chính là nhờ những lần đi nói chuyện các nơi. Có một lần được mời đến bức tường đá đen mà ở Hoa Thịnh Đốn ( Washington ), nơi ghi tên 58.000 binh sĩ Mỹ tử trận ở Việt Nam, Kiều Chinh có đọc một bài diễn văn. Trên nửa triệu người có mặt hôm đó nhân kỷ niệm 10 năm bức tường đá đen. Họ tổ chức 3 ngày 3 đêm liền để đọc tên từng người một trên bức tường đó. Khi đến lượt Kiều Chinh là người thứ tư lên đọc tên, Kiều Chinh nói: “ Hôm nay, tôi là một công dân Mỹ, nhưng là gốc Việt. Khi đọc những tên như là Smith, Johnson, thì trong lòng tôi không khỏi nghĩ đến những người họ Trần, họ Lê đã gục ngã trong cuộc chiến đó. Đã có đến hơn 2 triệu người gục ngã. Tôi ước mong một ngày sẽ làm được gì để vinh danh những người đó, nhất là trẻ em.” Khi nói điều đó, Kiều Chinh đã được những Vietnam Vet ( Cựu chiến binh Mỹ ở Việt Nam ) hưởng ứng. Sau đó, Kiều Chinh được tiếp tay với nhà báo nổi tiếng Terry Anderson, người đã bị giữ làm con tin ở Trung Đông và ông Lewis Puller, một cựu chiến binh nổi tiếng của Mỹ, cùng sáng lập một hội từ thiện lấy tên là "The Vietnam Children Fund" vào năm 1993. Hội chỉ làm một công việc là xây những ngôi trường tiểu học tại các làng mạc đã bị chiến tranh tàn phá, giúp các em có chỗ học và hy vọng các em sẽ có một tương lai tốt đẹp hơn.  Hội có may mắn là được rất nhiều sự ủng hộ, đặc biệt từ phía các cựu quân nhân Mỹ. Một trong những người đầu tiên đứng lên ủng hộ cũng là một Vietnam Vet, Jim Kimsey . Sau khi giải ngũ, ông đã sang Việt Nam hai lần trong thời gian chiến tranh. Khi về, ông thành lập công ty America Online. Chính ông là người tài trợ cho ngôi trường đầu tiên của hội, mà Kiều Chinh đã đề nghị xây tại Đông Hà, tức vĩ tuyến 17, nơi chia đôi đất nước trong thời chiến. Năm 1995, ngôi trường được xây xong. Ông Terry Anderson, tức là đồng chủ tịch với Kiều Chinh cùng với ông Jim Kimsey, người tài trợ, đã về cắt băng khánh thành trường.  Từ đó cho đến nay, hội đã xây được 52 ngôi trường tại khắp các vùng trên quê hương, từ Bắc, Trung tới Nam. Người tài trợ nhiều nhất và lâu dài nhất cũng là một người cựu chiến binh Mỹ ở Việt Nam, đó là ông Fred Smith, chủ tịch của công ty FedEx, đã tài trợ cho hội 5 ngôi trường. Ngôi trường cuối cùng Kiều Chinh về cắt băng khánh thành, hình như vào năm 2016 là ở Quảng Nam. Cho tới nay, 52 ngôi trường đó đã đủ chỗ cho các em đi học, giúp cho khoảng 40 chục ngàn em mỗi năm có nơi đi học.   RFI: Thưa chị Kiều Chinh, cuộc đời của chị quả là có nhiều thăng trầm, nhiều biến cố đau thương. Nhìn lại những năm tháng đã qua, điều gì đã giúp cho chị vượt qua được những thử thách, những tai nạn để vẫn đứng vững cho đến ngày hôm nay, để tiếp tục đi đóng phim, tiếp tục hoạt động xã hội? Kiều Chinh: Đúng như anh nói. Cuộc đời của Kiều Chinh có những may mắn, nhưng cũng có những cái kém may mắn, cũng gặp rất nhiều thăng trầm. Mỗi lần một sự việc không máy mắn xảy ra thì mình cứ tưởng như là trời sụp, là mình chịu đựng không nổi. Nhiều lúc cũng muốn nổi điên! Nhưng cũng nhờ là tại những nơi mà mình đã đi, chẳng hạn như các trại tị nạn, mình đã gặp biết bao nhiêu người, đã nhìn thấy, đã chứng kiến và đã được nghe những thảm kịch. Mình nhìn lại thì mình thấy: “ Chao ôi, chuyện của mình thấm thía gì so với chuyện mà những người khác đã trải qua. Hãy nhìn lại mà xem, đồng bào mình cũng như là khắp mọi nơi, biết bao nhiêu người khổ đau, biết bao chuyện ghê gớm. Vậy thì chuyện của mình có gì đâu, đừng té ngã như vậy, hãy đứng thẳng lên và đi tới, để tiếp tục công việc của mình và hãy mạnh mẽ để còn làm được nhiều việc cho người khác". Đó là sức mạnh giúp cho Kiều Chinh RFI : Thưa chị Kiều Chinh, nếu không có gì trục trặc thì ấn bản tiếng Pháp cuốn hồi ký “ Kiều Chinh Nghệ sĩ lưu vong” sẽ được xuất bản trong tháng 9, tháng 10.  Trước khi kết thúc cuộc nói chuyện, chị có những lời tâm sự, nhắn gởi gì đến đồng bào người Việt ở Pháp nói riêng, và đồng bào người Việt nói chung? Kiều Chinh: Cám ơn Thanh Phương. Cuốn sách của Kiều Chinh bản tiếng Việt cũng như bản tiếng Anh đã được đón nhận rất nồng nhiệt ở Hoa Kỳ. Rất nhiều người bên Đức, bên Úc, cả ở Việt Nam và đặc biệt bên Pháp cũng đòi Kiều Chinh gởi sách đi rồi ra mắt sách. Đó là lý do mà Kiều Chinh đã quyết định cho cuốn sách được sang Pháp ngữ. Hiện giờ, cuốn sách dự kiến là tháng 9, tháng 10 sẽ xong và rất mong có một buổi ra mắt sách để gặp gỡ đồng bào ở bên Pháp sau khi cuốn sách bằng tiếng Pháp được phát hành. Cho tới giờ cũng chưa biết ai sẽ giúp mình đứng ra tổ chức một buổi ra mắt sách như vậy. Ước mong sẽ có một người nào đó bên Pháp đứng ra tổ chức cho Kiều Chinh. RFI : Xin cám hơn chị Kiều Chinh.
    8/1/2022
    18:52
  • Kết án nhiều nhà bảo vệ môi trường: Danh tiếng của Việt Nam bị ảnh hưởng
    Hiện có một nghịch lý ở Việt Nam: chính phủ tích cực công bố những cam kết về chống biến đổi khí hậu, chuyển đổi năng lượng hướng đến trung hòa carbon vào năm 2050, nhưng cùng lúc bắt giam ít nhất bốn nhà hoạt động môi trường tính từ đầu năm 2022. Bản án 2 năm tù vì tội trốn thuế được tuyên ngày 17/06 đối với bà Ngụy Thị Khanh, giám đốc tổ chức GreenID, bị nhiều tổ chức bảo vệ nhân quyền cho “là một phần trong một nỗ lực rộng hơn nhằm bịt miệng các nhà hoạt động môi trường hàng đầu ở Việt Nam”. Bà Ngụy Thị Khanh bị cáo buộc “vi phạm quy định pháp luật về quản lý thuế” đối với khoản tiền thưởng 2 triệu đô la cho 3 năm sau khi bà và tổ chức GreenID được trao giải Đột phá về Môi trường (Climate Breakthrough Award) năm 2019. Ba nhà hoạt động môi trường khác là Mai Phan Lợi, Bạch Hùng Dương và Đặng Đình Bách cũng bị bắt hoặc bị kết án vì “trốn thuế”, tội danh phổ biến tại Việt Nam khi chính quyền muốn “sờ” đến ai. Theo tổ chức Quan Sát Nhân Quyền (Human Rights Watch), nhà báo Mai Phan Lợi và luật sư Đặng Đình Bách là thành viên của VNGO-EVFTA, một nhóm tư vấn trong nước gồm 7 tổ chức được cả Liên Hiệp Châu Âu và Việt Nam đồng ý thành lập để khối xã hội dân sự độc lập có thể giám sát việc thực thi Hiệp định Thương mại Tự Do EU-Việt Nam (EVFTA). Trả lời RFI Tiếng Việt ngày 05/07/2022, luật sư Claudio Francavilla, chuyên gia vận động Liên Hiệp Châu Âu của tổ chức Quan Sát Nhân Quyền đánh giá bản án gần đây đối với bà Ngụy Thị Khanh là “bất công” và cho biết tổ chức này tiếp tục vận động để Liên Hiệp Châu Âu gia tăng sức ép đối với Hà Nội trong lĩnh vực nhân quyền và bảo vệ các nhà hoạt động chống biến đổi khí hậu ở Việt Nam. ******* RFI : HRW cũng như nhiều tổ chức bảo vệ nhân quyền khác kêu gọi trả tự do ngay lập tức cho bà Ngụy Thị Khanh và các nhà bảo vệ môi trường khác. Tại sao tổ chức Quan Sát Nhân Quyền tin là bà Ngụy Thị Khanh chịu bất công ?  Luật sư Claudio Francavilla: Đúng vậy. Bà Ngụy Thị Khanh được trao Giải Goldman, một giải thưởng cao quý về bảo vệ môi trường. Nhưng bà cũng bị buộc tội trốn thuế, bị kết án 2 năm tù và đang thụ án. Chúng tôi nghĩ là những cáo buộc đó hoàn toàn sai. Khi họ nêu các vấn đề với bà Ngụy Thị Khanh, bà đã tỏ ý hợp tác và sẵn sàng giải quyết mọi chuyện. Nhưng chính phủ không quan tâm đến điều đó và đưa vụ việc ra tòa. Chúng tôi e rằng đây có thể mới chỉ là bước đầu trong đợt trấn áp của chính phủ Việt Nam nhắm vào các tổ chức phi chính phủ hoạt động bảo vệ môi trường, trong khi trước đây những tổ chức này từng bị ngăn chặn nhưng sau đó được để yên và gần như được phép hoạt động. Chính phủ Việt Nam đã loại được một phần lớn những tiếng nói bất đồng và bây giờ dường như chiến dịch chuyển sang đàn áp các tổ chức phi chính phủ khác, bao gồm cả các tổ chức phi chính phủ về môi trường. RFI : Liệu có phải là nghịch lý khi Việt Nam liên tục đưa ra những cam kết mạnh mẽ về cải thiện môi trường, chống biến đổi khí hậu, hợp tác với nhiều chính phủ và tổ chức nước ngoài để thực hiện những kế hoạch trên, nhưng lại bắt giam hay “bịt miệng” những nhà hoạt động môi trường nổi tiếng, đã có những dự án hỗ trợ cho chính phủ, hoặc được hỗ trợ từ các tổ chức về khí hậu ở nước ngoài ? LS Claudio Francavilla : Việc này chắc chắn làm suy giảm mức độ tin cậy vào những cam kết của chính phủ Việt Nam, bao gồm cả về mặt môi trường. Nhưng tôi không nghĩ điều đó là nghịch lý. Tôi đã đọc trong các thông cáo rằng Liên Hiệp Châu Âu và Hoa Kỳ đã rất ngạc nhiên về thông tin trên. Nhưng tôi nghĩ không ai nên ngạc nhiên nữa. Thời gian để ngạc nhiên đã qua từ lâu khi nói đến Việt Nam. Việc mà chính phủ làm với bà Ngụy Thị Khanh, cũng như đối với những người khác, hoàn toàn phù hợp với những gì chính quyền Việt Nam làm từ nhiều năm, thậm chí là từ nhiều thập niên qua, mà gần như không hề bị trừng phạt. Chính việc không bị trừng phạt là vấn đề mấu chốt ở đây. Chừng nào còn chưa có hệ quả từ những vụ lạm dụng như vậy, thì chính phủ sẽ không có động cơ hoặc ý định xem xét lại vấn đề lạm dụng. RFI : Trong một thông cáo ngày 04/04, ông chỉ trích là “cuộc đối thoại nhân quyền EU-Vietnam sắp tới không nên chỉ là việc đánh dấu tích cho có nữa”. Liệu Liên Hiệp Châu Âu thờ ơ với tình hình nhân quyền Việt Nam, trong khi đây là một trong những điều kiện để ký EVFTA ? Phải chăng vì Liên Hiệp Châu Âu không lên tiếng mạnh mẽ nên chính quyền Việt Nam tiếp tục hành động như vậy? LS Claudio Francavilla : Tôi không nói là Liên Hiệp Châu Âu thờ ơ với những lo ngại này, nhưng chắc chắn là ít hơn nhiều so với mức có thể. Trên thực tế, trái với tư vấn của chúng tôi, cũng như những tổ chức phi chính phủ khác, họ liên tục nói rằng Hiệp định Thương mại Tự do EU - Việt Nam (EVFTA) là một công cụ để đưa Việt Nam đến gần với phương Tây và thúc đẩy tự do cởi mở cho truyền thông trong nước. Nhưng chúng tôi đã nhiều lần nhắc với các nhà lãnh đạo Liên Hiệp Châu Âu rằng việc đó sẽ không ngăn được sự trấn áp ở Việt Nam, cũng như chỉ cổ vũ thêm cho các phe phái cứng rắn nhất trong chính phủ. Chúng ta đang chứng kiến chính xác những gì đang diễn ra cho đến nay. Ngoài ra, cần nhớ rằng nội bộ Liên Hiệp Châu Âu cũng không thống nhất, một số nước thành viên sẵn sàng thúc đẩy vấn đề nhân quyền hơn những nước khác. Nhưng bây giờ, rất tiếc là đòn bẩy phê chuẩn EVFTA đã không còn và rất khó để nói đến những hệ quả đối với Hiệp định EVFTA ở thời điểm này. Vì vậy, câu hỏi đặt ra là thực sự có thể làm gì bây giờ ? Trước tiên, cần nhận ra rằng chiến lược này không hiệu quả. Các cuộc đối thoại, cũng như Hiệp định EVFTA, hay sự tự tin về cách tiếp cận ngoại giao cho đến giờ đã chứng minh rằng không thể tạo nên kết quả. Vì vậy, thực sự, chiến lược này không có tác dụng. Hiện giờ, chính phủ Việt Nam rất hay tính toán thiệt hơn, nên rất nhạy cảm với danh tiếng của họ trên trường quốc tế trong lúc Hà Nội đang cố gắng thu hút các nguồn đầu tư mới. Từ điểm đó, Liên Hiệp Châu Âu cần áp dụng một cách tiếp cận vững chắc hơn. Họ phải hành động khi có những người bị bắt hoặc bị kết án. Họ phải lên tiếng, yêu cầu được thăm người bị giam giữ. Họ cũng cần xem xét hành động tại Hội Đồng Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc. Liên Hiệp Châu Âu phải cho thấy rõ thái độ giận dữ, rằng những gì đang diễn ra ở Việt Nam hoàn toàn không chấp nhận được và Hà Nội sẽ phải chịu hậu quả. Và để hệ quả có tác dụng hơn, họ cần phối hợp với những đối tác khác có cùng tư tưởng. Bruxelles cũng cần cân nhắc đến việc đình chỉ đối thoại về nhân quyền cho đến khi Việt Nam có thể đưa ra những cam kết rõ ràng để trấn an người dân và cải cách các đạo luật bị cho là lạm dụng và là gốc rễ của vấn đề. Liên Hiệp Châu Âu cũng cần có những công cụ khác mạnh mẽ hơn, như cơ chế trừng phạt quốc tế về nhân quyền, nhưng phải thực tế hơn, trong bối cảnh nhiều nước thành viên thậm chí vẫn chần chừ đồng ý về tuyên bố. Tôi không hình dung ra được họ có thể nhất trí như thế nào để ủng hộ việc thông qua các biện pháp trừng phạt. Việt Nam tham gia Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị (Internatioanl Convenant on Civil and Political Rights, ICCPR). Việt Nam cũng công bố rõ ràng về nhân quyền trong quan hệ song phương cũng như trong nội bộ, nhưng lại ngang nhiên vi phạm cả hai. Chừng nào họ chưa phải trả giá cho việc này, thì tình hình sẽ không thay đổi. RFI : Ngoài thông cáo ra, tổ chức Quan Sát Nhân Quyền có thể làm thêm gì để bảo vệ những nhà hoạt động môi trường bị viện cớ trốn thuế bắt giam nói riêng và các nhà hoạt động nói chung ? LS Claudio Francavilla : Tổ chức Quan Sát Nhân Quyền sẽ tiếp tục theo dõi và lập báo cáo tình hình trong nước, về những trường hợp đúng, hợp pháp và rộng hơn nữa là những vụ lạm dụng đã xảy ra. Chúng tôi có rất nhiều luật sư cho những trường hợp như vậy, ở Bruxelles cũng như ở những văn phòng khác của HRW trên thế giới. Chúng tôi cũng thường xuyên phối hợp với các tổ chức phi chính phủ khác, những người có chung mối quan tâm như chúng tôi. Nhưng sau đó, thực sự còn phụ thuộc vào các chính phủ, vào Liên Hiệp Quốc và định chế khác để hành động chống những lạm dụng này. Và như tôi đã nói ở trên, phải có những hệ quả cho những vụ lạm dụng đó, thì tình hình mới dần cải thiện được. RFI Tiếng Việt xin trân thành cảm ơn luật sư Claudio Francavilla, chuyên gia vận động Liên Hiệp Châu Âu của tổ chức Quan Sát Nhân Quyền tại Bruxelles, Bỉ. *******  Viện trợ đi kèm điều kiện trả tự do cho các nhà bảo vệ môi trường ?  Gần một tháng sau phiên tòa kết án bà Ngụy Thị Khanh, ngày 12/07, Hiệp hội Công Giáo chống Tra tấn và Án tử hình Pháp (ACAT) đã kêu gọi ký kiến nghị gửi đến đại sứ quán Pháp tại Hà Nội để yêu cầu chính quyền Việt Nam trả tự do cho cựu giám đốc GreenID. Trước đó, người phát ngôn bộ Ngoại Giao Việt Nam Lê Thị Thu Hằng khẳng định bị cáo “đã thừa nhận hành vi này” (trốn thuế) và bác bỏ “một số ý kiến suy diễn cho rằng Ngụy Thị Khanh bị xử lý hình sự vì những hoạt động và ý kiến liên quan đến biến đổi khí hậu là không có cơ sở và không đúng với bản chất của vụ việc”. Tuy nhiên, lời giải thích của phía Việt Nam không thuyết phục được các tổ chức bảo vệ nhân quyền, cũng như chính phủ Pháp và Mỹ. Lần lượt trong hai thông cáo ngày 17/06 và 19/06, bộ Ngoại Giao Pháp và bộ Ngoại Giao Mỹ đều bày tỏ “quan ngại sâu sắc” về bản án đối với “một nhân vật nổi tiếng vì cam kết chống biến đổi khí hậu và ủng hộ chuyển đổi năng lượng ở Việt Nam”. Paris và Washington “kêu gọi trả tự do ngay lập tức” cho “một nhân vật ưu tú trong xã hội dân sự” ở Việt Nam và nhấn mạnh đến “vai trò quan trọng của xã hội dân sự trong việc giúp các quốc gia như Việt Nam đáp ứng các mục tiêu về biến đổi khí hậu và bảo vệ môi trường”. Ông Michael Sutton, giám đốc Goldman Environmental Prize, tổ chức trao Giải thưởng Môi trường Goldman 2018 cho người phụ nữ Việt Nam đầu tiên, cho rằng việc bắt giữ bà Khanh “sẽ gây hại cho danh tiếng của Việt Nam ở quốc tế”. Ông cũng kêu gọi “bất cứ hỗ trợ chuyển đổi nào về năng lượng dành cho Việt Nam trong tương lai cũng phải gắn liền với việc trả tự do cho bà Khanh”. Chính phủ Việt Nam đang đàm phán nhiều chương trình tài trợ năng lượng bền vững với các nước Mỹ, Anh, Nhật Bản và tương tự với Liên Hiệp Châu Âu là hiệp định tài chính 142 triệu euro cho Chương trình Chuyển đổi Năng lượng Bền vững Việt Nam-EU. Liệu trường hợp những nhà đấu tranh bảo vệ môi trường bị bắt giam có được đề cập trong các cuộc thảo luận với các đối tác Việt Nam không ?
    7/25/2022
    9:12
  • Việt Nam thận trọng trước thông tin về căn cứ Trung Quốc ở Cam Bốt
    Theo báo chí Cam Bốt, ngày 08/06/2022, bộ trưởng Quốc Phòng Cam Bốt Tea Banh và đại sứ Trung Quốc tại Phnom Penh Vương Văn Thiên đã đến căn cứ hải quân Ream ở tỉnh Sihanoukville để dự lễ động thổ công trình cải tạo căn cứ này.  Vào lúc đó, tờ báo Khmer Times dẫn lời đại sứ Vương Văn Thiên nhấn mạnh công trình nói trên chỉ nhằm giúp hiện đại hóa hải quân Cam Bốt, chứ không nhắm vào bất kỳ bên thứ ba nào. Về phần bộ trưởng Quốc Phòng Tea Banh, ông bác bỏ thông tin cho rằng căn cứ Ream khi được hiện đại hóa sẽ do quân đội Trung Quốc độc quyền sử dụng. Trước đó, ngày 07/06, phát ngôn viên chính phủ Phnom Penh cũng tuyên bố Cam Bốt sẽ không cho phép Trung Quốc sử dụng độc quyền căn cứ Ream, hoặc phát triển địa điểm này làm căn cứ quân sự. Nhưng cùng ngày hôm đó, tờ nhật báo Mỹ Washington Post khẳng định Trung Quốc sẽ được độc quyền sử dụng căn cứ Ream và như vậy là lính Trung Quốc sẽ có thể đóng thường trực tại đây cùng với các thiết bị tình báo.  Những thông tin tờ báo Mỹ đưa ra có khả tín hay không? Trên thực tế, Cam Bốt và Trung Quốc đã thỏa thuận những gì liên quan đến căn cứ Ream? Trả lời RFI Việt ngữ ngày 07/07/2022, nhà nghiên cứu Lê Hồng Hiệp, Viện Nghiên cứu Đông Nam Á, Singapore, cho biết: “ Những thông tin liên quan đến thỏa thuận giữa Cam Bốt và Trung Quốc xây dựng căn cứ hải quân Ream thì trước đây vẫn còn chút ít nghi ngờ, nhất là khi các cơ quan tình báo Mỹ, cũng như tờ The Wall Street Journal của Mỹ đưa tin vào năm 2019. Nhưng bây giờ mọi thứ đã trở nên rõ ràng và không còn nghi ngờ gì nữa. Phía Cam Bốt và Trung Quốc cũng đã xác nhận ngày 08/07 hai nước đã tiến hành lễ động thổ khởi công xây dựng căn cứ này với sự tham gia của bộ trưởng Quốc Phòng Cam Bốt Tea Banh và đại sứ Trung Quốc ở Cam Bốt Vương Văn Thiên. Rõ ràng là sự tham gia của Trung Quốc trong việc xây dựng, cải tạo căn cứ này đã được chứng minh.  Tuy nhiên, vấn đề ở đây mà chúng ta cần theo dõi, đó là dàn xếp cụ thể giữa Trung Quốc và Cam Bốt như thế nào, ví dụ như Trung Quốc sẽ được tiếp cận khu vực nào của căn cứ này và quan trọng hơn là mục đích sử dụng của khu vực đấy sẽ là gì: chỉ được dùng để phục vụ việc tiếp liệu cho các tàu của Trung Quốc, hay các tàu chiến của Trung Quốc sẽ được hiện diện thường trực ở khu vực đấy. Đây là những điều có thể ảnh hưởng đến vai trò và ý nghĩa của dự án hợp tác này giữa Trung Quốc và Cam Bốt. Tuy nhiên, do chương trình chưa hoàn thành, cho nên chúng ta phải chờ xem sau khi hoàn thành, căn cứ này sẽ được sử dụng như thế nào.” Việt Nam phản ứng thận trọng Trước những thông tin nói trên, Việt Nam đã có phản ứng thận trọng. Trong cuộc họp báo thường kỳ ngày 09/06, khi được hỏi về việc Cam Bốt, Trung Quốc động thổ dự án cải tại căn cứ hải quân Ream, phát ngôn viên bộ Ngoại Giao Việt Nam Lê Thị Thu Hằng đã không trả lời thẳng, mà chỉ tuyên bố Việt Nam “luôn mong muốn duy trì và củng cố quan hệ hợp tác tốt đẹp với các quốc gia trên toàn thế giới”, đồng thời đề nghị là việc hợp tác giữa các quốc gia “cần đóng góp tích cực vào hòa bình, an ninh, ổn định và thịnh vượng của khu vực cũng như trên toàn thế giới”. Vì sao Hà Nội lại tỏ ra thận trọng về những thông tin nói trên? Nhà nghiên cứu Lê Hồng Hiệp giải thích: “ Việc Việt Nam chưa đưa ra phản ứng rõ ràng cũng là một điều dễ hiểu, tại vì đây là một vấn đề nhạy cảm, ảnh hưởng đến quan hệ với cả Cam Bốt và Trung Quốc, đều là những nước láng giềng quan trọng và có ảnh hưởng lớn đến an ninh quốc phòng của Việt Nam. Có lẻ là Việt Nam chọn cách tiếp cận thận trọng, vừa quan sát và chờ đợi để có thể đưa ra phản ứng phù hợp. Tôi nghĩ là Việt Nam cần có thời gian để đánh giá thêm, tại vì trên thực tế đã có nhiều căn cứ quân sự của Trung Quốc, ví dụ như ở Tam Á, ở Hoàng Sa, Trường Sa và trên đất liền, Trung Quốc cũng đã có những căn cứ như vậy. Mức độ đe dọa của Trung Quốc đối với Việt Nam không phải vì căn cứ Ream mà tăng lên đáng kể, trong khi chúng ta vẫn chưa biết mục đích sử dụng của Trung Quốc là gì, để xem mức độ đe dọa của Trung Quốc từ căn cứ này của Cam Bốt lớn đến đâu. Chúng ta cũng cần lưu ý một điều: Hiến pháp Cam Bốt hiện tại quy định Cam Bốt là một quốc gia theo đường lối trung lập, không cho phép lập các căn cứ quân sự của nước ngoài trên lãnh thổ Cam Bốt. Chính vì vậy, tôi nghĩ là Cam Bốt cũng phải cân nhắc cẩn thận để không biến mình thành một quân cờ của Trung Quốc, đặc biệt trong bối cảnh Cam Bốt cũng cần duy trì quan hệ tốt với các đối tác bên ngoài Cam Bốt không muốn hy sinh sự độc lập, tự chủ về chiến lược chỉ vì Trung Quốc, và cũng không muốn hy sinh quan hệ của mình với các đối tác chỉ vì để duy trì quan hệ với Trung Quốc. Bên cạnh căn cứ ở Ream, có lẽ Việt Nam sẽ quan tâm nhiều tới những gì diễn ra ở căn cứ gần đấy, đó là căn cứ Koh Kong. Căn cứ này không chỉ có hải cảng, mà còn có cả sân bay có thể được dùng để triển khai các máy bay quân sự. Có thông tin cho rằng Trung Quốc cũng đang tài trợ cho việc xây dựng các cơ sở có thể mang tính chất lưỡng dụng, có thể phục vụ cho các mục đích quân sự đó. Quy mô của căn cứ Koh Kong thì có thể lớn hơn nhiều so với căn cứ Ream. Việt Nam có lẽ cũng theo dõi tình hình ở cả Ream và Koh Kong để có thông tin chính xác để có phản ứng phù hợp với Cam Bốt và Trung Quốc, để làm sao vừa hạn chế được các rủi ro về an ninh, vừa duy trì được quan hệ tốt với cả Cam Bốt và Trung Quốc trong thời gian tới.” Trang Asia Times ngày 30/06/2022 trích dẫn một số nhà phân tích cho rằng, nếu đó không phải là một căn cứ mà Trung Quốc độc quyền sử dụng và nếu không có việc lính Trung Quốc đóng thường trực ở căn cứ này, thì không có gì đáng lo ngại nhiều đối với Việt Nam. Trong trường hợp Trung Quốc xác lập một căn cứ quân sự và có sự hiện diện lâu dài ở Cam Bốt, thì chắc chắn Cam Bốt sẽ gặp các sức ép lớn từ phía các quốc gia khác trong ASEAN, từ phía Việt Nam, từ phía Mỹ và các đồng minh.  Trong trường hợp này, theo nhà nghiên cứu Collin Koh, Trường Nghiên cứu Quốc tế S Rajaratnam ở Singapore, Việt Nam "sẽ không có phản ứng thái quá, cho dù Hà Nội sẽ vẫn theo dõi sát và bày tỏ quan ngại với Cam Bốt và Trung Quốc”. Ông Collin Koh cũng cho rằng Phnom Penh và Bắc Kinh cũng không muốn làm cho Việt Nam phản ứng quá mạnh, có thể ảnh hưởng đến các lợi ích của họ.  Nhưng các nhà phân tích khác như Zachary Abuza, giáo sư tại Đại học Chiến tranh Quốc gia ở Washington thì lưu ý: “Một khu trại rộng hai mẫu Anh trong một khu trại không phải là nhỏ, và có thể sẽ có một biệt đội của quân đội Trung Quốc đóng thường trực ở đây.” Ông nói thêm, mối quan tâm thực sự là căn cứ này sẽ giúp Trung Quốc tăng cường khả năng “tình báo, giám sát và trinh sát”, theo dõi “mọi thứ ra vào” đảo Phú Quốc, nơi có hạm đội phía nam của hải quân và lực lượng cảnh sát biển của Việt Nam. Nó cũng có thể cho phép quân đội giám sát hoạt động tại Căn cứ Hải quân Sattahip, căn cứ hải quân lớn nhất của Thái Lan cách đó chưa đầy 500 km và là nơi các chiến hạm của Mỹ thường xuyên cập cảng. Rủi ro lớn cho hải quân Việt Nam? Cũng trong bài viết của Asia Times, ông Nguyễn Khắc Giang, nhà phân tích tại Đại học Victoria Wellington, cho biết căn cứ này có thể “gây ra rủi ro lớn” cho hoạt động của hải quân Việt Nam, mà Bộ tư lệnh Vùng 5 chỉ nằm cách đó khoảng 30 km. Năm ngoái, Việt Nam đã thông báo thành lập một hải đội dân quân thường trực tại tỉnh Kiên Giang, giáp với tỉnh Kampot, đông nam Cam Bốt. Báo Quân đội Nhân dân của Việt Nam vào tháng 6/2021 cho biết đơn vị mới sẽ “bảo vệ chủ quyền biển và hải đảo” và thuộc quyền quản lý của Quân khu 9.  Tháng 6 vừa qua, nhà phân tích người Cam Bốt Sokvy Rim suy đoán rằng đơn vị mới của Việt Nam có thể được thành lập với mục đích “thu thập thông tin liên quan đến căn cứ quân sự tương lai của Trung Quốc tại Ream.” Nghiêm trọng hơn, sự hiện diện quân sự của Trung Quốc ở miền nam Cam Bốt có thể đồng nghĩa với việc “bao vây” Việt Nam. Việt Nam hiện đang đối mặt với quân đội Trung Quốc qua biên giới phía bắc và ở phía đông từ các cơ sở quân sự của Trung Quốc được xây dựng ngày càng nhiều ở Biển Đông. Các tàu hải quân Trung Quốc đóng tại Căn cứ Hải quân Ream của Cam Bốt có nghĩa là Việt Nam kể từ nay bị đe dọa cả ở phía nam và phía tây. Alexander Vuving, giáo sư tại Trung tâm Nghiên cứu An ninh Châu Á-Thái Bình Dương Daniel K Inouye ở Honolulu, Hawaii, báo động, cùng với các đảo do Trung Quốc kiểm soát ở quần đảo Trường Sa, các tàu đó “tạo ra gọng kìm quân sự để siết chặt Việt Nam”. Ông Vuving nói thêm: “Sự hiện diện của Trung Quốc tại căn cứ hải quân Ream là yếu tố thay đổi cuộc chơi cho quan hệ giữa một bên là Cam Bốt với Trung Quốc và bên kia là Việt Nam. Nó đánh dấu một điểm không thể quay lại trong quan hệ Cam Bốt - Việt Nam và Trung Quốc-Việt Nam." Nhà nghiên cứu Lê Hồng Hiệp ở Singapore cũng có nhận định tương tự: “ Nếu như họ có sự hiện diện ở vùng biển Cam Bốt như ở Ream, thì cái lợi lớn nhất đó là họ có thể rút ngắn thời gian khi triển khai lực lượng ở phía nam Biển Đông. Các tàu của họ từ căn cứ Ream khi triển khai xuống khu vực nam Biển Đông thì sẽ nhanh và hiệu quả hơn so với triển khai từ Hoàng Sa và Trường Sa, hay từ Trung Quốc đại lục. Khi có sự hiện diện ở Cam Bốt, ở phía nam Biển Đông như vậy thì có thể họ sẽ tạo thành một thế gọng kìm ở Biển Đông, có thể triển khai lực lượng hải quân từ hai phía bắc và nam và từ đấy có thể uy hiếp an ninh của Việt Nam cũng như là các nước khác trong khu vực, cũng như là uy hiếp các lực lượng hải quân của các nước bên ngoài khu vực như của Mỹ và của các đồng minh.  Tuy nhiên, căn cứ Ream này không quá lớn và theo tôi hiểu thì Trung Quốc chỉ được phép tiếp cận khoảng một phần ba diện tích căn cứ đấy. Một điều nữa là căn cứ Ream cũng ở xa các khu vực tranh chấp chính ở Biển Đông, đặc biệt là khu vực Hoàng Sa và Trường Sa, những khu vực dễ xảy ra xung đột quân sự nhất. Khu vực Ream tương đối gần đảo Phú Quốc của Việt Nam, chính vì vậy Việt Nam, nếu muốn, có thể triển khai các thiết bị ở Phú Quốc để có thể theo dõi và giám sát các hoạt động hải quân ra vào các khu vực Ream.  Chắc chắn là nếu Trung Quốc có sự hiện diện thường trực ở căn cứ này, thì có thể họ có một số lợi thế nhất định, nhưng đấy không phải là một lợi thế quá lớn và Việt Nam có lẻ không phải quá lo lắng về vấn đề này.  Vấn đề chúng ta cần xem thử tổng thể quan hệ Cam Bốt và Việt Nam sẽ diễn biến theo chiều hướng nào, quan hệ Trung Quốc và Việt Nam sẽ ra làm sao trong thời gian tới và nhìn tổng thể hơn thì sự hiện diện quân sự của Trung Quốc ở Cam Bốt có làm gia tăng căng thẳng hay gia tăng sự cạnh tranh chiến lược giữa Mỹ với Trung Quốc, cũng như giữa Mỹ và các đồng minh của Mỹ với Trung Quốc trong thời gian tới hay không. Nếu như nó là chất xúc tác khiến căng thẳng khu  vực gia tăng, thì đó là một mối lo ngại cũng không kém phần quan trọng đối với Việt Nam.” Dầu sao những thông tin về căn cứ hải quân Ream một lần nữa cho thấy cuộc tranh giành ảnh hưởng ở Cam Bốt giữa Việt Nam với Trung Quốc đang trở nên gay gắt hơn.
    7/18/2022
    11:14
  • Việt Nam muốn thành “cứ điểm” sản xuất thế giới nhưng thiếu cơ sở hạ tầng
    Việt Nam đề ra 3 cột mốc phát triển cho giai đoạn 20 năm : “Đến năm 2025 trở thành nước phát triển, có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp ; đến năm 2030 trở thành nước phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao ; tiến tới đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao”. (1) Để thực hiện những mục tiêu này, ngoài những nhà đầu tư chính Hàn Quốc, Nhật Bản, Singapore…, chính phủ Việt Nam muốn đa dạng các nguồn đầu tư trực tiếp nước ngoài, đặc biệt là vào những lĩnh vực công nghệ cao. Thủ tướng Phạm Minh Chính đã tích cực vận động các nhà lãnh đạo các đại tập đoàn đa quốc gia, quỹ đầu tư, định chế tài chính Hoa Kỳ đầu tư vào Việt Nam nhân chuyến công du dự thượng đỉnh Mỹ-ASEAN tháng 05/2022. Ngoài ra, Việt Nam dường như cũng đang muốn thu hút một phần đầu tư từ dự án Hợp tác Đối tác về Cơ sở Hạ tầng và Đầu tư toàn cầu (PGII, trị giá 600 tỉ đô la trong vòng 5 năm) của Mỹ và G7 dành cho các nước đang phát triển. Do đó, thủ tướng Phạm Minh Chính cũng đề nghị Chương trình Phát triển của Liên Hiệp Quốc (UNDP) tiếp tục tư vấn chuyên môn cho Việt Nam để đạt thỏa thuận thiết lập quan hệ đối tác chuyển đổi năng lượng với các nước G7. Tuy nhiên, cơ sở hạ tầng và nền tảng pháp lý ở Việt Nam đã sẵn sàng tiếp nhận những nguồn đầu tư mới ? Việt Nam đáp ứng được tiêu chí “minh bạch” được các nước G7 nhấn mạnh khi thông báo PGII ? RFI Tiếng Việt đặt câu hỏi với nhà nghiên cứu Eric Mottet, giảng viên trường Đại học Công giáo Lille, Pháp. ***** RFI : Trước tiên, xin ông giải thích về chính sách đầu tư nước ngoài hiện nay của Việt Nam ! Hà Nội chủ yếu ưu tiên những lĩnh vực nào ? Và những lĩnh vực này khác với trước ra sao ? Eric Mottet : Hiện tại, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) ở Việt Nam rất lớn và ngày càng nhiều. Ví dụ tổng số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam năm 2021 là 31 tỉ đô la Mỹ, cao hơn rất nhiều so với 10 tỉ đô la vào năm 2014. Có nghĩa là tăng gấp ba lần chỉ trong vòng 7-8 năm. Chúng ta thấy là năm 2021, cuối cùng Việt Nam lại không bị tác động vì khủng hoảng kinh tế. Điều này được giải thích qua việc tăng trưởng kinh tế của Việt Nam vẫn rất mạnh, tiếp theo là nhiều nước bị xáo trộn hoạt động sản xuất, đặc biệt là Trung Quốc với chiến lược chống Covid-19 vô cùng nghiêm ngặt ở Bắc Kinh, trong khi ở Việt Nam thì ngược lại, nới lỏng rất nhiều do trở lại bình thường từ vài tháng nay, và cuối cùng là qua việc căng thẳng chính trị-thương mại giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ. Trước đây, thường thì đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam chủ yếu hướng vào ngành công nghiệp nhẹ. Nhưng vài năm gần đây, vốn đầu tư chuyển sang ngành công nghiệp nặng và bất động sản công nghiệp (ví dụ nhà xưởng), có nghĩa là những vùng, những khu công nghiệp đang tuyển dụng tới gần 4 triệu người ở Việt Nam. Đó là một lĩnh vực hoạt động vô cùng quan trọng. Người ta cũng thấy đầu tư gia tăng trong các ngành du lịch, hoạt động chuyên ngành công nghệ, điện tử mũi nhọn, đặc biệt là “Green Tech”, ngành sản xuất ô tô, y tế. Có thể thấy là Việt Nam đã trở thành một quốc gia vô cùng hấp dẫn về đầu tư trực tiếp nước ngoài. Vậy những nước nào đang đầu tư vào Việt Nam ? Trước tiên, đó là Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore - những nước châu Á đang đầu tư ồ ạt vào Việt Nam, và hiện chưa có nhiều nước châu Âu hay Hoa Kỳ. Còn tại sao lại đầu tư vào Việt Nam ? Đó là vì Việt Nam có nhiều điểm mạnh, như tăng trưởng mạnh và ổn định từ khoảng 20 năm gần đây, nhân công trẻ, giá rẻ lại có tay nghề cao và ngày càng thành thạo, chính trị-xã hội ổn định, thêm vào đó là vị trí địa lý thuận lợi nên Việt Nam trở thành trung tâm công nghiệp vừa mang tính cạnh tranh vừa hấp dẫn trong vùng. Điều thay đổi so với khoảng 10-20 năm trước đây, đó là chính phủ tìm cách tự do hóa thị trường và đưa ra nhiều biện pháp cải cách dựa trên thị trường tự do. Một yếu tố quan trọng khác giải thích cho các nguồn đầu tư lớn, đó là lĩnh vực nông nghiệp, cũng như các nguồn tài nguyên, vẫn chưa được khai thác đúng mức ở Việt Nam. Đây là điểm ít thay đổi trong những năm gần đây. Do đó, có thể thấy một loạt yếu tố khiến các nhà đầu tư trực tiếp, trước tiên là châu Á, tiếp theo là ngày càng nhiều nhà đầu tư châu Âu và Hoa Kỳ quan tâm đến Việt Nam. RFI : Liệu khuôn khổ pháp lý liên quan đến đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam đã có những thay đổi lớn trong 30 năm qua ? Eric Mottet : Có, bởi vì đầu tư trực tiếp nước ngoài chỉ được phép từ năm 1988, còn trước đó bị cấm. Tất cả nằm trong khuôn khổ Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, bảo vệ các quyền sở hữu trí tuệ, trong đó có vốn nước ngoài được đầu tư, bảo vệ lợi ích và các nhà đầu tư nước ngoài, triển khai những điều kiện thuận lợi, như đơn giản hóa thủ tục giúp người nước ngoài đầu tư lớn vào Việt Nam. Một điểm mới xuất hiện gần đây trong Luật Đầu tư nước ngoài, đó là hiện giờ, người lao động nước ngoài đầu tư vào Việt Nam được phép chuyển tiền ra nước ngoài. Trước đây, điều này là không thể, họ có thể đầu tư, rút lợi nhuận từ các khoản đầu tư đó ở Việt Nam nhưng không được phép chuyển tiền ra nước ngoài. Nhưng hiện giờ thì hoàn toàn có thể. Ngoài ra, cũng phải kể đến những tiến bộ đáng kể về mặt tòa án, về quyền lợi ở Việt Nam. Hiện có nhiều cơ chế trọng tài Việt Nam cho phép giải quyết một tranh chấp giữa một nhà đầu tư nước ngoài với chính quyền hoặc các đối tác Việt Nam. Việt Nam đã thăng hạng rất nhiều trong Báo cáo Môi trường Kinh doanh “Doing Business” của Ngân Hàng Thế Giới. Việt Nam đang đứng thứ 70 trên tổng số 190 nước. Đây là thành tích tốt so với năm 2010 khi Việt Nam đứng ở vị trí 93. Có thể thấy là Hà Nội đã có những chuyển biến tích cực về việc tạo điều kiện kinh doanh. Chính phủ đã không ngừng nỗ lực thu hút thêm các công xưởng, các nguồn đầu tư vào trong nước. Nhìn chung, đầu tư nước trực tiếp nước ngoài được định hướng theo một khuôn khổ cụ thể. Chính phủ Việt Nam đề nghị đầu tư vào 10 lĩnh vực chủ đạo. Tôi không liệt kê ra hết ở đây, nhưng có thể nêu một số lĩnh vực chế biến và sản xuất, sản xuất và phân phối điện trong bối cảnh Việt Nam đang rất cần để phát triển kinh tế, đặc biệt là ở miền nam, cũng như các lĩnh vực khác như bất động sản, thương mại bán sỉ bán lẻ… Có thể thấy rõ là bộ Kế Hoạch và Đầu Tư nhắm đến mục tiêu thu hút thêm đầu tư trực tiếp nước ngoài, chủ yếu vào lĩnh vực năng lượng, công nghệ cao. Chính phủ Việt Nam cố gắng kiện toàn hệ thống tư pháp, tài chính, một hệ thống cho phép Việt Nam tôn trọng những cam kết của cộng đồng quốc tế, và về dài hạn sẽ giúp Việt Nam đa dạng hóa nền kinh tế. Việt Nam đã ký một loạt hiệp định thương mại và có hiệu lực từ năm 2020, như Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương - CPTPP, Hiệp định Thương mại Tự do Liên Hiệp Châu Âu-Việt Nam - EVFTA, Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam-Anh Quốc - UKVFTA. Do đó, có thể thấy, thông qua một đạo luật mới, Việt Nam đang tạo điều kiện tiếp cận tốt hơn cho hoạt động xuất khẩu, đồng thời khuyến khích cải cách cho phép doanh nghiệp nước ngoài đầu tư ồ ạt vào Việt Nam. RFI : Việt Nam vẫn thường bị chỉ trích về điều kiện cơ sở hạ tầng. Liệu đây vẫn là điểm yếu của Việt Nam ? Eric Mottet : Nếu nhìn vào tất cả các tài liệu quảng bá đầu tư nước ngoài ở Việt Nam thì điểm đầu tiên, chính là nhược điểm về cơ sở hạ tầng giao thông và năng lượng. Đúng là Việt Nam có nhiều điểm yếu, ví dụ lưu thông từ bắc xuống nam rất phức tạp với nút cổ chai trong việc vận chuyển hàng hóa giữa hai miền. Đây là sự kìm hãm cho phát triển sản xuất và hoạt động thương mại ngay trong nước. Chính phủ đã cố gắng triển khai nhiều dự án từ vài năm gần đây : khuyến khích đầu tư nước ngoài, kể cả với các định chế tài chính quốc tế ; đầu tư mạnh vào những dự án phát triển cơ sở hạ tầng quy mô lớn giúp giao thông trong nước được dễ dàng hơn. Vấn đề ở chỗ, phát triển cơ sở hạ tầng cần phải có thêm nhiều tác nhân, nhiều bên tham gia. Hơn nữa, trên thực tế, xây dựng cơ sở hạ tầng mất nhiều thời gian, ít lợi nhuận về mặt kinh tế. Ngoài ra, Việt Nam cũng không có nhiều cảng lớn hiện đại, không đủ năng lực như các cảng ở Singapore, Malaysia, Trung Quốc, có nghĩa là những nước mà Việt Nam cạnh tranh. Theo tôi, Việt Nam còn nhiều điểm yếu khác không chỉ liên quan đến cơ sở hạ tầng, mà còn về cơ cấu tài chính, như lĩnh vực ngân hàng, hoặc mang tính nhạy cảm liên quan đến các quyết định chính trị. Ngoài ra còn phải kể đến những nhược điểm về minh bạch luật pháp, ví dụ một tranh chấp thương mại có thể mất đến vài năm để giải quyết giữa hai bên, rồi nguy cơ lớn về tham nhũng. Sự phát triển bất cân xứng giữa các địa phương trong nước cũng bị coi là điểm yếu cho các nhà đầu tư nước ngoài vào một số lĩnh vực hạ tầng ở Việt Nam. RFI : Liệu những vấn đề về môi trường và sinh thái có được đưa vào những dự án đầu tư mới để tránh đầu tư “bẩn” (như trường hợp Formosa từng làm ô nhiễm vùng biển miền trung Việt Nam) ? Đây có phải là một mối bận tâm của chính phủ không ? Eric Mottet : Đó là một mối bận tâm đối với chính phủ Việt Nam. Chúng ta biết là thủ tướng Phạm Minh Chính, tại Hội nghị COP26 vào tháng 10/2021, đã thông báo Việt Nam đặt mục tiêu trung hòa khí thải CO2 vào khoảng năm 2050. Đây là một mong muốn, một cam kết thực sự được chính phủ Việt Nam đưa ra và cũng có ý định giữ lời. Có thể thấy quyết tâm của chính phủ Việt Nam từ vài năm gần đây trong việc khuyến khích cho đầu tư xanh, phát triển lĩnh vực năng lượng tái tạo và hiệu quả về năng lượng. Để đạt được mục tiêu trung hòa khí thải vào năm 2050, Việt Nam đã triển khai và đã cố gắng giảm đáng kể sản xuất nhiệt điện. Việc này hiện còn khá phức tạp nhưng đó thực sự là nguyện vọng của chính quyền Việt Nam hướng đến mốc năm 2050. Tóm lại, cùng với mong muốn phục hồi kinh tế, Việt Nam đang tìm cách thu hút các nguồn đầu tư trực tiếp nước ngoài tập trung vào kinh tế xanh. Phía các nhà đầu tư nước ngoài, đặc biệt là các nhà đầu tư, tài trợ lớn châu Âu, cũng phản hồi khá tích cực. Họ coi Việt Nam là một điểm đến hấp dẫn đối với đầu tư trực tiếp trong lĩnh vực năng lượng. Cơ quan Phát triển Pháp - AFD, nhiều nước Liên Hiệp Châu Âu như Bỉ, muốn phát triển các hải cảng “xanh” ở Việt Nam. Phía Mỹ, trong khuôn khổ dự án kinh tế Ấn Độ-Thái Bình Dương - IPEF, cũng muốn đầu tư vào năng lượng tái tạo. Có thể thấy chính phủ Việt Nam mong muốn và nhận thức được rằng phải nỗ lực và tập trung mạnh mẽ hơn vào đầu tư xanh, phát triển “nền kinh tế xanh”. Dù phải nói là sẽ không đạt được khối lượng và cấp độ có thể thấy ở châu Âu nhưng đã có sự nhận thức thực sự nếu nhìn vào những khoản đầu tư ngày càng tăng từ nhiều năm gần đây vào những lĩnh vực này và chủ yếu là từ các nước Liên Hiệp Châu Âu. RFI Tiếng Việt xin trân thành cảm ơn nhà nghiên cứu Eric Mottet, giảng viên trường Đại học Công giáo Lille, Pháp. ****** (1) Facebook Thông tin Chính phủ ngày 16/05/2022
    7/11/2022
    9:37

Über TẠP CHÍ VIỆT NAM

Sender-Website

Hören Sie TẠP CHÍ VIỆT NAM, 1LIVE und viele andere Radiosender aus aller Welt mit der radio.de-App

TẠP CHÍ VIỆT NAM

TẠP CHÍ VIỆT NAM

asdf 1

Jetzt kostenlos herunterladen und einfach Radio & Podcasts hören.

Google Play StoreApp Store

TẠP CHÍ VIỆT NAM: Zugehörige Sender